Luật Đầu tư Việt Nam liên tục được tu chính, bổ túc, tính đến nay đã 16 lần, khiến dư luận không khỏi đặt câu hỏi về phẩm chất của công tác soạn thảo luật pháp tại Việt Nam. Bộ trưởng Tài chánh Ngô Văn Tuấn giải thích rằng việc sửa đổi nhằm tháo gỡ những trở ngại, cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư. Nhưng liệu cứ liên tục sửa đổi luật pháp như vậy có thật sự là giải pháp, hay chỉ phơi bày những yếu kém trong tư duy hoạch định chính sách?…
Sáng ngày 2 tháng 11 năm 2026, tại phiên thảo luận ở hội trường Quốc hội Việt Nam về dự luật tu chính, bổ túc một số điều của Luật Đầu tư Việt Nam, câu chuyện đạo luật này đã phải sửa đổi tới 16 lần tiếp tục thu hút sự chú ý của các dân biểu. Vấn đề được nêu ra không đơn thuần là sửa luật để thích ứng với tình hình mới, mà còn là một câu hỏi lớn về phẩm chất của công tác lập pháp, tính ổn định của chính sách và những phí tổn mà người dân cùng giới doanh nghiệp phải gánh chịu mỗi khi các quy định thay đổi.
Theo những tin tức được công bố tại phiên họp, dân biểu Hoàng Minh Hiếu, thuộc đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An, cho biết đây là kỳ họp thứ ba liên tiếp Quốc hội bàn đến việc tu chính Luật Đầu tư. Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đến nay, đạo luật này đã trải qua 16 lần sửa đổi, bổ túc, bình quân gần ba lần mỗi năm. Ông Hiếu cảnh báo rằng việc thay đổi quá thường xuyên có thể khiến hệ thống luật pháp thiếu ổn định, làm gia tăng phí tổn tìm hiểu, cập nhật và tuân hành các quy định đối với người dân cũng như giới doanh nghiệp. Điều này không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh mà còn có thể làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư đối với môi trường pháp lý tại Việt Nam.
Dân biểu Hoàng Minh Hiếu còn đặt vấn đề về chính cơ cấu và phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư hiện nay. Theo ông, đạo luật này cùng lúc đảm nhận hai chức năng: điều chỉnh quyền đầu tư, kinh doanh và đóng vai trò như một đạo luật cấp phép cho các dự án đầu tư. Trong khi đó, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư phải xem xét nhiều vấn đề cùng lúc, từ điều kiện của nhà đầu tư, địa điểm, đất đai, quy hoạch, quy mô, tiến độ cho đến những đòi hỏi về môi trường. Sau khi được chấp thuận chủ trương, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục hoàn tất những thủ tục tương ứng theo các luật về đất đai, xây cất, môi trường và những ngành chuyên môn khác.
Theo dân biểu Hoàng Minh Hiếu, cách tổ chức như vậy dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo, kéo dài thủ tục và khó phân định trách nhiệm giữa các cơ quan công quyền. Mỗi khi một đạo luật chuyên ngành thay đổi, Luật Đầu tư lại có thể phải tu chính theo. Ông đề nghị về lâu dài cần thu hẹp phạm vi điều chỉnh của đạo luật này, tập trung bảo đảm quyền tự do đầu tư, kinh doanh và chỉ xem xét, kiểm soát trước đối với những dự án thật sự liên quan đến quốc phòng, an ninh, hạ tầng trọng yếu hoặc quyền lợi chiến lược. Những vấn đề còn lại nên giao cho các luật chuyên ngành quy định minh bạch, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng nhúng tay vào giải quyết nhưng rốt cuộc lại không có cơ quan nào chịu trách nhiệm sau cùng.
Trả lời những thắc mắc trước Quốc hội, Bộ trưởng Tài chánh Ngô Văn Tuấn nhìn nhận những băn khoăn liên quan đến việc Luật Đầu tư phải sửa đổi nhiều lần. Tuy nhiên, ông cho biết các đợt tu chính trước đây chủ yếu nhắm vào việc cắt giảm những điều kiện và thủ tục đầu tư, kinh doanh. Riêng lần sửa đổi hiện nay, mục tiêu được đặt ra là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ những trở ngại, thu hút nguồn vốn và khai thông các nguồn lực phục vụ sự tăng trưởng kinh tế.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn sắp tới. Để đáp ứng đòi hỏi này, tổng vốn đầu tư của toàn xã hội được tính toán cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025. Riêng vốn đầu tư trực tiếp từ ngoại quốc, tức FDI, Việt Nam cần thu hút bình quân từ 30 đến 40 tỷ Mỹ kim vốn giải ngân mỗi năm. Đây là một mục tiêu rất lớn, trong bối cảnh nhiều quốc gia khác cũng đang cạnh tranh quyết liệt để thu hút các tập đoàn và những dự án thuộc lãnh vực kỹ thuật cao.
Ông Tuấn viện dẫn thực tế tại Philippines, Malaysia và Ấn Độ, nơi đang áp dụng nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào các ngành điện tử, máy điện toán, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng những chính sách hấp dẫn hơn để không đánh mất lợi thế cạnh tranh trong cuộc chạy đua thu hút nguồn vốn quốc tế.
Một vấn đề khác được Bộ trưởng nhấn mạnh là phẩm chất của nguồn vốn đầu tư. Dự luật hướng đến việc ưu tiên các ngành kỹ thuật cao, đổi mới sáng tạo, chuyển giao kỹ thuật và chuyển đổi số. Đặc biệt, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại quốc cần được liên kết chặt chẽ hơn với giới doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện để các công ty Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị sản xuất.
Đối với những chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết việc trợ giúp không thể chỉ căn cứ vào quy mô vốn, thời gian hay ngành nghề hoạt động, mà phải gắn liền với kết quả thực tế. Những cam kết của nhà đầu tư cần được lượng hóa, kiểm tra và giám sát. Trong trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện hoặc không thực hiện đúng những cam kết đã đưa ra, Nhà nước cần có cơ chế chấm dứt và thu hồi các khoản ưu đãi. Theo ông, quy định minh bạch ngay từ đầu sẽ giúp bảo vệ nguồn lực công quỹ và hạn chế nguy cơ phát sinh những vụ tranh chấp đầu tư quốc tế.
Dân biểu Đồng Ngọc Ba, ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, cũng đề nghị phải làm rõ ranh giới giữa những điều kiện đầu tư, kinh doanh với các đòi hỏi chuyên môn được quy định trong những luật chuyên ngành. Ông cho rằng cần có những tiêu chuẩn cụ thể khi hạn chế hình thức tổ chức kinh doanh hoặc quy định về chứng chỉ hành nghề, tránh tình trạng áp dụng thiếu nhất quán giữa các ngành nghề. Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết cơ quan soạn thảo sẽ ghi nhận ý kiến của các dân biểu, xem xét lại phạm vi điều chỉnh và bảo đảm sự tương thích giữa Luật Đầu tư với những quy định pháp luật khác.
Nhìn từ câu chuyện này, điều đáng suy nghĩ không chỉ nằm ở con số 16 lần sửa đổi, mà còn ở phẩm chất của toàn bộ tiến trình soạn thảo luật pháp. Một đạo luật liên tục phải tu chính trong một thời gian ngắn là dấu hiệu cho thấy những bất cập cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Không thể cứ mỗi lần chính sách phát sinh trở ngại lại chọn giải pháp sửa luật, rồi sau đó tiếp tục sửa đổi vì chính những quy định mới lại nảy sinh tình trạng chồng chéo. Cách làm ấy buộc giới doanh nghiệp phải liên tục chạy theo những quy định mới, tốn thêm tiền bạc, thời giờ và nhân lực để thích ứng. Trong khi đó, sự ổn định và khả năng tiên liệu của luật pháp lại chính là những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhà đầu tư quyết định bỏ vốn trong một thời gian lâu dài.
Nói thẳng ra, một hệ thống lập pháp có phẩm chất phải dự liệu được những vấn đề căn bản ngay từ đầu, tham khảo thực tế, đánh giá ảnh hưởng và lấy ý kiến đầy đủ trước khi ban hành luật. Nếu một đạo luật vừa có hiệu lực đã liên tục phải sửa đổi, trách nhiệm không thể chỉ được giải thích bằng lý do tình hình thay đổi hay đòi hỏi phát triển mới. Cần phải xem xét cả khả năng nghiên cứu, tiên liệu và phối hợp của những cơ quan soạn thảo, thẩm định và thông qua luật. Không thể đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao, kêu gọi doanh nghiệp trong nước lẫn ngoại quốc mạnh tay đầu tư, nhưng lại để họ phải hoạt động trong một môi trường pháp lý thường xuyên thay đổi và khó tiên liệu. Muốn thu hút nguồn vốn, trước hết phải tạo dựng được niềm tin; mà muốn có niềm tin, luật pháp phải minh bạch, nhất quán và đủ ổn định. Đây mới chính là bài toán mà những người hoạch định chính sách tại Việt Nam cần nghiêm chỉnh giải quyết.
NGƯỜI QUAN SÁT




