Một dự thảo mới đang gây chú ý trong cộng đồng mạng Việt Nam: chủ tài khoản, chủ kênh và người quản trị nhóm cộng đồng có từ 1 triệu người theo dõi trở lên có thể phải gởi văn bản khai báo thông tin liên lạc cho cơ quan quản lý nhà nước. Quy định này được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tăng cường việc quản lý nội dung trên mạng xã hội, từ đó làm dấy lên câu hỏi về ranh giới giữa quản lý không gian mạng và quyền tự do hoạt động, phát biểu trên môi trường số….
Theo dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 147/2024 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam soạn thảo và hiện đang được Bộ Tư pháp của quốc gia này thẩm định, những chủ tài khoản, chủ kênh hoặc người quản trị nhóm cộng đồng có tổng số người theo dõi từ 1 triệu người trở lên sẽ phải làm thủ tục thông báo thông tin liên lạc với cơ quan quản lý nhà nước. Theo cơ quan soạn thảo, mục đích của quy định là tăng cường quản lý những tài khoản có lượng người theo dõi rất lớn, bởi nội dung từ các tài khoản này có khả năng tác động rộng tới xã hội. Việc cung cấp thông tin được cho là nhằm hạn chế sai sót về nội dung và tạo cơ sở để cơ quan hữu trách liên lạc với người quản lý tài khoản khi cần thiết.
Tuy nhiên, điều khiến nhiều người quan tâm chính là phạm vi thông tin phải cung cấp. Theo mẫu thông báo kèm dự thảo, cá nhân phải khai họ tên, ngày tháng năm sanh, số định danh cá nhân hoặc hộ chiếu, địa chỉ thường trú hoặc tạm trú, số điện thoại di động đã xác thực tại Việt Nam và địa chỉ email. Đối với tổ chức, doanh nghiệp, danh sách này còn gồm tên tổ chức, mã định danh điện tử, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hộ kinh doanh nếu có, địa chỉ trụ sở và thông tin người đại diện theo pháp luật. Không chỉ vậy, chủ thể còn phải lập danh sách những tài khoản, kênh, trang và nhóm do mình quản lý, kèm đường dẫn, nền tảng hoạt động và số lượng người theo dõi hoặc thành viên. Nếu được ban hành, những tài khoản có sức ảnh hưởng đặc biệt lớn sẽ phải gánh thêm một lớp nghĩa vụ hành chánh đối với hoạt động của mình trên mạng xã hội.
Dự thảo cũng đề nghị phân cấp cho UBND cấp tỉnh của Việt Nam thẩm quyền xem xét, quyết định một số thủ tục liên quan tới giấy phép trang thông tin điện tử tổng hợp và dịch vụ mạng xã hội. Điều này cho thấy xu hướng phân cấp quản lý internet đang tiếp tục được đẩy mạnh, đồng thời sự tham gia của cơ quan công quyền vào môi trường số cũng ngày càng rộng hơn. Đáng chú ý, đây không phải là một động thái riêng lẻ. Trước đó, Nghị định 174 đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định nhiều mức xử phạt đối với hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin bị xác định là giả, sai sự thật hoặc vi phạm những quy định về hoạt động trên mạng xã hội. Theo các quy định này, chủ kênh hoặc người quản trị hội nhóm có thể phải chịu trách nhiệm nếu để những nội dung thuộc diện vi phạm xuất hiện trong không gian do mình quản lý.
Nhìn dưới góc độ quản lý, nhà nước có lý do để quan tâm tới những tài khoản có hàng triệu người theo dõi. Một tin tức sai lệch phát xuất từ một tài khoản có sức ảnh hưởng lớn có thể lan truyền rất nhanh và gây hậu quả rộng. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ phải quản lý thế nào để mạng xã hội không biến thành một nơi mà người sử dụng lúc nào cũng phải dè dặt, nhìn trước ngó sau vì sợ một nội dung nào đó có thể bị quy kết là sai phạm? Đây chính là điều khiến dư luận đặt câu hỏi. Khi ngày càng có thêm nhiều quy định, nghị định và chế tài được đưa vào không gian mạng, một môi trường số ngày càng chật hẹp.
Nếu mục tiêu là làm cho mạng xã hội tại Việt Nam lành mạnh hơn, thì luật lệ phải thật rõ ràng, minh bạch, có tiêu chuẩn cụ thể và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng. Trái lại, nếu những khái niệm như “sai sự thật”, “nội dung không phù hợp” hay “tác động xấu” được giải thích quá rộng, người sử dụng rất dễ rơi vào tâm trạng tự kiểm duyệt, thậm chí không dám nói lên quan điểm của mình. Một không gian mạng lành mạnh không nhứt thiết phải là một không gian im lặng. Việc ngăn chặn tin giả là điều cần thiết, nhưng đồng thời cũng phải bảo vệ quyền được phản biện, tranh luận và bày tỏ ý kiến một cách hợp pháp. Đối với những người có hàng triệu người theo dõi, trách nhiệm xã hội chắc chắn phải cao hơn người dùng thông thường, nhưng trách nhiệm ấy cũng cần đi đôi với những quy định công bằng, cùng khả năng khiếu nại và giải trình minh bạch.
Điều đáng lo, vì thế, không chỉ nằm ở con số 1 triệu người theo dõi, mà nằm ở hướng đi rộng hơn của chánh sách quản lý không gian mạng. Khi mỗi ngày lại xuất hiện thêm những nghĩa vụ, chế tài và yêu cầu kiểm soát mới, người sử dụng có quyền đặt câu hỏi: mạng xã hội Việt Nam đang trở thành một môi trường văn minh, an toàn hơn, hay đang ngày càng ngột ngạt vì quá nhiều tầng lớp quản lý?
NGƯỜI QUAN SÁT



