Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần.
Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người.
Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
Ngày xưa, sông được gọi bằng cái tên hoang dã – sông Rừng. Tôi muốn dùng cái tên này để nhắc đến truyền thuyết về 38 chàng trai làng Gia Viễn (Hải Phòng). Bởi phía sau sông Rừng là cả một ký ức về những con người bình dị, những chàng trai vạm vỡ, bơi lội giỏi như loài rái cá, sống dọc theo dòng sông. Một ngày, khi đất nước gọi tên, họ theo gót hai thanh niên trong làng, Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận, tự vũ trang xin theo Ngô Quyền đi phá giặc.
Sông thường nổi sóng bạc đầu, vì thế mới có tên gọi khác là Bạch Đằng Giang. Sông Rừng ngày ấy là một vùng cửa biển hiểm yếu. Sông rộng, nhiều nhánh đổ về, hai bên là núi non, rừng cây um tùm. Địa hình cùng với chế độ thủy triều lên xuống mạnh, đã tạo nên một chiến trường đặc biệt. Và Ngô Quyền, người am hiểu địa thế, đã khởi xướng và biến dòng sông thành một trận địa thiên nhiên.
Cuối mùa đông năm 938, một đoàn binh thuyền hùng hậu của quân Nam Hán do Vạn Thắng Vương Hoằng Thao chỉ huy vượt biển tiến vào nước ta. Quân giặc khi ấy không hề hay biết rằng chúng đang bước vào một trận địa không có lối về. Phía dưới mặt nước yên bình, những hàng cọc gỗ lớn đã được đóng ngầm xuống lòng sông. Khi thủy triều dâng, quân ta dùng những chiến thuyền nhỏ ra khiêu chiến rồi giả thua, từng bước, nhử đội thuyền Nam Hán tiến sâu vào trận địa.
Đây là trận đánh lịch sử đầu tiên trên sông Bạch Đằng mà cái chết của Thái tử Hoằng Thao đã làm tàn lụi giấc mơ xâm lược của Nam Hán Cao Tổ. Người anh hùng Ngô Quyền đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài nhiều thế kỷ, và mở đầu cho một kỷ nguyên độc lập lâu dài trên đất nước ta.
Nhưng câu chuyện của sông Rừng chưa dừng lại ở đó.
Bốn mươi ba năm sau, năm 981, một lần nữa quân Tống tiến vào Đại Việt. Vua Lê Đại Hành thân chinh trực tiếp cầm quân chống giặc. Vùng cửa sông Bạch Đằng lại là nơi quân dân Đại Cồ Việt phát huy lợi thế địa hình và thủy triều để chống quân xâm lược. Quân dân ta đã đánh một trận oai hùng đuổi bốn vạn quân Tống ra khỏi bờ cõi.
Gần ba thế kỷ sau, lịch sử lại một lần nữa gọi tên dòng sông.
Năm 1288, trận chiến trên sông Bạch Đằng là trận chiến khốc liệt chống lại đội quân hùng mạnh của đế chế Nguyên. Đại Đế Hốt Tất Liệt, người được giới sử học quốc tế đánh giá là một trong những nhà chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử. Với ý định nghiền nát Đại Việt để trả hận cho hai lần chiến bại, cuộc động binh lần này của quân Mông Cổ được chuẩn bị kỹ lưỡng với một dàn danh tướng dày dạn chiến trường.
Quân ta dưới sự lãnh đạo của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, một lần nữa các loại gỗ lim, gỗ táu được đốn ngã trên rừng rồi kéo về bờ sông. Ở đây, chúng được đẽo nhọn cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra biển, làm thành những bãi chông ngầm lớn. Đây là một trận thủy chiến đầy gian nan nhưng cũng là một chiến thắng vinh quang nhất trong lịch sử dân tộc.
Ba lần Bạch Đằng dậy sóng, ba lần những đội quân xâm lược hùng mạnh phải bỏ lại giấc mộng chinh phục trên dòng sông này. Với những chiến tích ấy, sông Rừng đã đi vào lịch sử, và là điểm hội tụ linh khí của non sông, như lời danh sĩ đời Trần, Phạm Sư Mạnh:
Kỳ quan của vũ trụ là mặt trời lên tại hang Dương Cốc,
Khí thiêng của núi sông đọng lại ở chốn Bạch Đằng.
Trương Hán Siêu, người từng trải qua các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, đã nhắc lại hào khí ấy trong Bạch Đằng giang phú:
Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.
Ngày nay, những cọc lim, cọc táu của những trận thủy chiến năm xưa đã chìm sâu dưới lớp bùn đất. Nhưng dường như lịch sử chưa bao giờ thực sự chìm xuống. Nó vẫn trở về trong tiếng nước, trong những con sóng bạc đầu và trong câu thơ của người xưa. Vua Trần Minh Tông, vị vua thứ năm đời Trần, từng đứng trước Bạch Đằng mà viết:
Non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt,
Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoáng qua như một lúc dựa vào lan can.
Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối,
Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô.
Sông Rừng không chỉ là dòng sông mà còn là nơi thời gian dường như lắng lại, để ta nhận ra bóng dáng của những con người từng gắn bó với nơi này. Lịch sử được viết bởi sông Rừng mới đẹp làm sao, nó đơn sơ như cọc lim, cọc táu và bình dị như những người con vô danh của làng Gia Viễn. Khi đất nước gọi tên, họ sẵn sàng có mặt; khi tan can qua, họ lại bình lặng trở về bên dòng sông. Chính họ là lịch sử, là những vần thơ để sông Rừng còn mãi âm thầm gìn giữ những tháng ngày vinh quang.
Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử


