Monday, August 31, 2026

LOẠT DỰ ÁN LNG CHẬM TIẾN ĐỘ: BÁO ĐỘNG AN NINH NĂNG LƯỢNG

Hàng loạt dự án điện LNG từng được kỳ vọng sẽ bảo đảm nguồn điện cho Việt Nam nay đang chậm tiến độ. Trong lúc nhu cầu điện ngày một gia tăng mạnh mẽ, câu hỏi đáng lo được đặt ra là: nếu những nhà máy này không kịp hoàn tất, Việt Nam sẽ lấy đâu ra điện để đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn 2028-2030?…

Việt Nam đang đứng trước một bài toán chẳng dễ giải quyết: nhu cầu điện tăng nhanh để phục vụ sản xuất, kỹ nghệ và mục tiêu tăng trưởng cao, trong khi hàng loạt dự án điện khí LNG được kỳ vọng trở thành nguồn điện quan trọng lại chưa thể triển khai đúng tiến độ. Nếu những điểm nghẽn về thủ tục, vốn liếng, mặt bằng và hợp đồng mua bán điện không được tháo gỡ, nguy cơ thiếu hụt nguồn điện trong giai đoạn 2028-2030 có thể trở thành một vấn đề đáng lo ngại đối với an ninh năng lượng quốc gia.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn ngày 15/4/2025 tại Quyết định 768/QĐ-TTg, tới năm 2030 tổng công suất các nguồn điện LNG dự kiến đạt 22.524 MW, tương đương khoảng 9,5-12,3% tổng công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước. Đây không phải là một tỷ trọng nhỏ. Bộ Công Thương xác định LNG là một trong những nguồn điện quan trọng để bảo đảm cung cấp điện trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ ngày một tăng mạnh.

Nhưng giữa quy hoạch nằm trên giấy và những nhà máy thật sự phát điện là một khoảng cách rất lớn. Một dự án LNG không phải chỉ xây xong nhà máy rồi bật máy lên là xong. Phía sau đó là cả một chuỗi hạ tầng gồm cảng tiếp nhận LNG, kho chứa, hệ thống tái hóa khí, đường ống dẫn khí, nhà máy điện và hệ thống truyền tải. Chỉ cần một mắt xích bị đình trệ, toàn bộ dự án cũng có thể bị kéo dài.

Điểm nghẽn đặc biệt quan trọng nằm ở hợp đồng mua bán điện, gọi tắt là PPA. Các nhà đầu tư cần một cơ chế đủ chắc chắn để có thể huy động hàng tỷ Mỹ kim cho nhà máy, cảng LNG và những công trình hạ tầng đi kèm. Trong khi đó, bên mua điện cũng phải tính toán nguy cơ phải trả tiền cho công suất hoặc sản lượng điện đã cam kết ngay cả khi nhu cầu thực tế thấp hơn dự kiến. Đây chính là cuộc giằng co giữa yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và yêu cầu giữ giá điện ở mức hợp lý.

Ngày 15/4/2026, tại hội nghị về tình hình triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Thứ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam ông Nguyễn Hoàng Long chủ trì cuộc họp với các địa phương, EVN, NSMO và những đơn vị liên hệ nhằm thúc đẩy tiến độ các dự án nguồn và lưới điện. Bộ Công Thương nhấn mạnh yêu cầu phải bảo đảm đủ điện cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới.

Đây chính là điểm khiến câu chuyện LNG trở nên đáng lo. Việt Nam không chỉ cần thêm điện cho nhu cầu sinh hoạt mà còn phải đáp ứng sự mở rộng của kỹ nghệ, các trung tâm dữ liệu, ngành sản xuất kỹ thuật cao và những dự án đầu tư mới. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh dự kiến tổng công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước tới năm 2030 lên mức 183.291-236.363 MW, trong khi điện thương phẩm dự kiến đạt khoảng 500,4-557,8 tỷ kWh.

Nếu các dự án LNG tiếp tục chậm trễ, câu hỏi đặt ra là lấy nguồn nào để bù vào khoảng trống? Tăng nhập cảng điện, kéo dài vai trò của nhiệt điện than, đẩy nhanh năng lượng tái tạo hay phát triển thêm những nguồn điện linh hoạt? Mỗi lựa chọn đều có cái giá riêng phải trả.

LNG vốn được xem là loại nhiên liệu linh hoạt hơn than và có thể hỗ trợ hệ thống điện khi điện gió, điện mặt trời biến động. Tuy nhiên, LNG vẫn là nhiên liệu hóa thạch và Việt Nam phải nhập cảng một phần lớn nguồn nhiên liệu này. Chính Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng yêu cầu phát triển LNG với quy mô thích hợp và phải có phương án thay thế nhằm giảm sự lệ thuộc vào nhiên liệu nhập cảng.

Điều đó dẫn tới một nghịch lý: Việt Nam cần LNG để bảo đảm nguồn điện trong giai đoạn chuyển tiếp năng lượng, nhưng càng dựa nhiều vào LNG thì càng lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu từ bên ngoài. Giá LNG trên thị trường quốc tế biến động, tỷ giá thay đổi, phí chuyên chở tăng hoặc chuỗi cung ứng quốc tế bị gián đoạn đều có thể tác động trực tiếp tới phí tổn sản xuất điện trong nước.

Vấn đề còn nằm ở yếu tố thời gian. Quy hoạch có thể đặt mục tiêu 22.524 MW, nhưng nếu những dự án quan trọng không biến thành công suất thực tế đúng lúc, con số nằm trên giấy không thể thắp sáng một nhà máy, một khu kỹ nghệ hay một căn nhà. An ninh năng lượng sau cùng không được đo bằng số MW ghi trong quy hoạch, mà bằng số MW thực sự có thể phát điện vào đúng lúc hệ thống cần.

Bộ Công Thương Việt Nam hiện cũng tiếp tục rà soát và cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Ngày 19/6/2026, Bộ ban hành Văn bản 4583/BCT-ĐL, yêu cầu các địa phương cung cấp dữ liệu về nguồn điện, lưới điện và nhu cầu phụ tải để phục vụ công tác rà soát, cập nhật quy hoạch.

Động thái này cho thấy bài toán điện lực đang được đặt lại trong bối cảnh nhu cầu thực tế thay đổi rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, nhưng muốn tăng trưởng thì trước hết phải có điện. Một nhà máy sản xuất có thể được xây dựng trong vài năm, nhưng nếu lưới điện và nguồn điện không theo kịp thì hàng tỷ Mỹ kim đầu tư cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng. 

NGƯỜI QUAN SÁT

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

MỚI CẬP NHẬT

spot_img