Saturday, May 23, 2026

Cơ Quan CDC Ảnh Hưởng Không Tốt Đến Lòng Tin Của Người Dân Với Thuốc Chủng

Từ bấy lâu nay, các chuyên gia về y tế đều xem thuốc chủng ngừa là biện pháp ngăn ngừa bệnh tật được nghiên cứu kỹ càng nhất, và nói chung được dân chúng ủng hộ mạnh mẽ.Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống Donald Trump, cơ quan có nhiệm vụ đề nghị về thuốc chủng ngừa là US Center for Disease Control and Prevention- gọi tắt là CDC lại tung ra sự hoài nghi mới về thuốc chủng ngừa, mặc dù mối hoài nghi đó không được khoa học chứng minh. Họ cho rằng thuốc chủng ngừa không an toàn, và gần đây, họ lại cho rằng có sự liên hệ giữa thuốc chủng ngừa cho trẻ em và bệnh tự kỷ- autism. Khoa học từng chứng minh rằng mối hoài nghi đó là sai, không có bằng cớ.

Trước ngày 19 tháng 11 năm 2025, trên website của cơ quan CDC  viết rõ ràng: “Nhiều nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ nào giữa việc chủng ngừa với sự phát sinh ra căn bệnh tự kỷ-autism disorder. Nhưng rồi điều khẳng định trên đây lại bị thay đổi, và cho rằng: “Điều khẳng định cho rằng “thuốc chủng ngừa không đưa đến chứng bệnh tự kỷ” là điều chưa được chứng minh với những bằng chứng cụ thể. Bởi vì có những nghiên cứu chứng minh rằng trẻ em sơ sinh được chủng ngừa có thể dẫn đến bệnh tự kỷ. Những nghiên cứu về sự liên hệ giữa chủng ngừa và bệnh tự kỷ bị giới chức y tế làm ngơ, không để ý tới.”.

Sự khẳng định trên là sai, nó phản ánh quan điểm hoài nghi thuốc chủng ngừa của ông Bộ trưởng Y Tế, Robert F. Kennedy, có từ bấy lâu nay. Gần đây, theo nghiên cứu mới đang trong tập san Science nói rằng quan điểm của cơ quan CDC gây ảnh hưởng đến niềm tin của người Mỹ. Theo ông Robert Bohm, Giáo sư tâm lý học ở trường đại học Vienna: “Mối quan ngại của tôi không phải là ảnh hưởng tức thời của người Mỹ đối với thuốc chủng ngừa, nhưng còn cả đối với hàng loạt những ảnh hưởng khác. Người Mỹ giảm bớt lòng tin vào cơ quan CDC, và họ sẽ ủng hộ những lề lối thực hành y khoa mà bấy lâu nay từng bị chối từ trên căn bản khoa học. Từ đó, nó sẽ khiến người ta có cái nhìn mới, quan niệm khác về những thông tin liên quan đến thuốc chủng ngừa.”.

Để thực hiện cuộc nghiên cứu, giáo sư Bohm và các đồng nghiệp của ông  đã hỏi thăm gần 3,000 người trưởng thành một số câu hỏi khác nhau liên quan đến sự an toàn, và hiệu quả của thuốc chủng ngừa. Trước khi trả lời câu hỏi, người được hỏi chưa từng đọc thông tin về quan điểm trước đây của cơ quan CDC về liên hệ giữa bệnh tự kỷ và thuốc chủng ngừa, hay  đã đọc về quan điểm mới của CDC, và cả trường hợp không đọc gì cả.

Rõ ràng việc đọc lời tuyên bố của cơ quan CDC ảnh hưởng đến cảm nghĩ của mọi người về vấn đề thuốc chủng. Ví dụ: những người từng đọc lời tuyên bố trước đây của cơ quan CDC sẽ không tin rằng thuốc chủng có thể đưa đến những hiệu quả trái ngược. Những người đọc lời tuyên bố mới đây thì có xu hướng hòai nghi về ảnh hưởng của thuốc chủng. Khi được hỏi liệu quý vị có đề nghị nên dùng thuốc chủng ngừa hay không. Họ tỏ ra ngần ngại, không còn hăng hái đề nghị nên dùng thuốc chủng. Tóm lại, lòng tin tưởng vào thuốc chủng ngừa được thúc đẩy mạnh khi đọc lời tuyên bố cũ. Trong khi đó, lòng tin vào thuốc chủng chỉ còn rất ít nếu đọc lời tuyên bố mới.

Các nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu về ngụ ý của những lập luận mà phe chống chủng ngừa sử dụng. Họ cho rằng lập luận của phe chủ trương dùng thuốc chủng ngừa là tốt đã không sử dụng những phương pháp khoa học. Họ cũng không ngần ngại sử dụng những thuyết âm mưu chưa hề được phối kiểm, xem xét lại. Trong tất cả những ví dụ trên, người đọc lời tuyên bố mới của cơ quan CDC dễ bị cắn mồi nhử, trong khi những người đọc lời tuyên bố cũ sẽ giảm bớt lòng tin vào tuyên bố của CDC.

Giáo sư Bohm nhận xét rằng: “Rất khó cho chúng ta kết luận tỷ lệ dùng thuốc chủng ngừa chỉ dựa vào một yếu tố nào đó. Song theo quan điểm của tôi thì sự thay đổi trong cách giải thích, cách truyền đạt thông tin của cơ quan CDC khiến cho lòng tin vào thuốc chủng ngừa bị giảm đi, cuối cùng thì tỷ lệ dân chúng đi chích ngừa chắc sẽ giảm bớt.”.

Giáo sư Bohm và nhóm nghiên cứu của ông không những chỉ quan sát cách hình thành quan điểm của người dân về thuốc chủng ngừa. Trong cuộc nghiên cứu mới đăng trong tập san Journal các nhà nghiên cứu đã phỏng vấn 3,000 người trưởng thành ở Hoa Kỳ để tìm hiểu xem họ đã lấy thông tin hàng ngày từ những nguồn tin ở đâu, và những nguồn tin đó đã ảnh hưởng đến quan điểm của họ như thế nào. Những người lấy tin của các loại báo thuộc xu hướng “new right”-hữu khuynh mới- thường bị lôi cuốn vào xu hướng hoài nghi thuốc chủng ngừa. Họ có thái độ hoài nghi đối với thuốc chủng ngừa gấp hai lần so với quan điểm của những người đọc thông tin từ các nguồn báo “tả khuynh”, hay chính mạch- mainstream. 

Giáo sư Bohm nói: “Nghiên cứu cho thấy rằng sự đồng thuận về thông tin khoa học có thể giúp làm tăng lòng tin của người dân đối với thuốc chủng ngừa. Do đó, nếu sự truyền đạt thông tin thay đổi, sẽ khiến người dân thay đổi quan điểm về thuốc chủng ngừa.”. Cũng vì lẽ đó, sẽ lại có sự thay đổi quan điểm khi chúng ta có một tập thể lãnh đạo mới.

Giáo sư Bohm cảnh cáo rằng nếu chúng ta không thay đổi cách truyền đạt thông tin, đất nước của chúng ta sẽ gặp nhiều rủi ro khi bỗng nhiên nổ ra một trận dịch mà lẽ ra có thể dùng thuốc chủng ngừa để ngăn chặn được. Ông nói: “Chúng ta không thể tưởng tượng ra nổi thảm họa sẽ to lớn đến mức nào nếu một bệnh dịch xuất hiện và hệ thống phòng ngừa bằng thuốc chủng bị sụp đổ. Đối với những căn bệnh lây lan rất mạnh như bệnh sởi chẳng hạn, chỉ cần một phần rất nhỏ từ chối không chịu đi chủng ngừa vì mất lòng tin vào thuốc chủng, cũng đủ đưa đến sự thương vong đáng kể.”.

Nguyễn Minh Tâm dịch theo báo TIME ngày 25/5/2026

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

MỚI CẬP NHẬT

spot_img