- Rút chân ra khỏi cuộc chiến ở Việt Nam khó hơn lúc bước vào cuộc chiến. Liệu chúng ta có rút ra được bài học nào trong cuộc chiến Việt Nam để áp dụng vào cuộc chiến hiện nay ở Iran hay không?
Ngày 8 tháng Ba năm 1965, lúc 9 giờ sáng, Thủy quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên bãi biển cách thành phố Đà nẵng 10 dặm về phía bắc. Đây là một thành phố nhỏ ven biển của miền Nam Việt Nam. Người Mỹ từng cung cấp trực tiếp viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam từ năm 1954, khi nước này bị chia cắt làm hai. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu với cuộc kháng chiến chống lại chế độ thuộc địa của Pháp từ năm 1946. Nhưng đơn vị Thủy Quân Lục Chiến là nhóm lính Mỹ đầu tiên đến Việt nam.
Chính quyền Johnson xem nhẹ ý nghĩa của việc đổ bộ lính Mỹ vào Việt Nam. Ông giải thích rằng việc gửi lính TQLC Mỹ đến Đà nẵng chẳng qua chỉ là để giữ an ninh cho phi trường, nơi được dùng cho chiến dịch quân sự Operation Rolling Thunder, ném bom xuống miền Bắc Việt Nam, mới bắt đầu được vài tuần lễ. Sau đó, việc ném bom xuống miền Bắc Việt Nam kéo dài trong suốt ba năm rưỡi, với hai đợt tạm ngưng ngắn.
Mặc dù bạn có thể ngừng ném bom bất cứ lúc nào. Như nhiều người vẫn thường nói khi bạn đem quân vào trận địa, việc rút quân lính ra khỏi chiến trường không dễ đâu. Cơ hội đem lính trở về nước bị suy giảm dần. Mọi người đều hiểu rằng gửi lính TQLC sang việt Nam đánh dấu cột mốc quan trọng cắm xuống mảnh đất này, và việc rút ra khỏi không dễ dàng chút nào. Một khi đã có người Mỹ, hay lính Mỹ bị giết chết, rất khó để rút chân ra khỏi cuộc chiến nếu không giành được chiến thắng. Vì lý do này, lính TQLC Mỹ đã phải chờ đợi suốt 32 ngày ở ngoài khơi, tàu chở họ cứ đi vòng vòng,lênh đênh ngoài biển Nam Hải trong lúc các nhân vật lãnh đạo chính trị bàn cãi ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Hầu hết lính TQLC Mỹ gửi sang Việt Nam đợt đầu tiên không biết những gì sắp xảy ra cho họ. Họ đổ bộ xuống bờ biển bằng những mảng bè kê sát vào bãi biển, theo kiểu D Day đổ bộ vào ở Âu châu trước đây. Họ nhảy ùm xuống nước, lướt qua những đợt sóng biển với nguyên bộ quân phục TQLC, vai đeo súng trường M-14. Ngay khi vừa xông xuống bãi biển, họ hết sức ngạc nhiên vì họ không hề đụng phải kẻ thù, mà họ được tiếp đón trọng thể với rất nhiều người thợ chụp hình chờ sẵn, các thiếu nữ Việt mặc áo dài, dâng hoa cho họ, cùng với một số người hiếu kỳ đứng xem. Một biểu ngữ lớn được treo cao: “Đón chào các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến anh hùng.”.
Họ là nhóm TQLC duy nhất không được thông báo trước nhiệm vụ của họ sang Việt Nam để làm gì. Chính quyền Nam Việt Nam cũng vậy, không được báo trước về nhiệm vụ của toán lính TQLC này. Chính phủ Hoa Kỳ đã sơ xuất, không nói rõ sẽ gửi lính TQLC sang Việt Nam. Đây là một dấu hiệu cho thấy đây là một cuộc chiến tranh trong đó mọi việc không diễn tiến theo như một kế hoạch chuẩn bị từ trước.
Mười năm sau, ngày 30 tháng Tư năm 1975, Hoa Kỳ đã rút chân ra khỏi Việt nam, ở một giai đoạn hết sức bất thường, kỳ lạ không thể tưởng tượng nổi, khiến cho bà Elisa Tamarkin có cảm hứng viết thành một cuốn sách, tựa đề là: “Done in a Day: Telex from the Fall of Saigon.” (Xuất bản ở Chicago.). Người ta có thể nói rằng việc kết thúc cuộc chiến không đi đúng theo kế hoạch. Hay người ta cũng có thể nói rằng, ngay từ lúc đầu, chẳng hề có một kế hoạch cụ thể, rõ ràng gì cả. Mặc dù có tin tức tình báo nói rõ Saigon sẽ bị Quân Đội Miền Bắc tràn ngập xông vào chiếm trong vài ngày nữa, song ông đại sứ Mỹ là ông Graham Martin vẫn từ chối không chịu chuẩn bị di tản.
Ông Martin hình như tin rằng cho đến giờ phút chót, việc thương thuyết để đưa ra một giải pháp có thể thực hiện được, và ông lo ngại rằng khi trông thấy lính Mỹ đóng gói hành lý ra đi sẽ làm cho mất tinh thần người dân miền Nam Việt nam nhiều lắm. Vì thế ông Martin chẳng làm gì cả ngoại trừ việc đảm bảo với Henry Kissinger rằng ông ước mong Việt Nam sẽ tự động biến mất. Kissinger là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, và cũng là Ngoại trưởng trong nội các của Tổng thống Gerald Ford, vị Tổng thống Mỹ thứ Tư dính líu đến cuộc chiến Việt Nam. Ông Martin cho rằng ông di tản lúc này e rằng hơi quá sớm.
Nhưng mọi người khác đều tin rằng cuộc chiến Việt Nam đã đến hồi kết thúc.Mùa đông năm đó, Bắc Việt đã tung ra những cuộc tấn công quan trọng. Lúc đầu là để thăm dò xem phản ứng của Quân đội miền Nam (ARVN) ra sao, nhưng vào ngày 13 tháng Ba, Tổng thống Miền Nam Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh triệt thoái quân đội ra khỏi miền trung. Lính miền Nam không có đủ thời gian để chuẩn bị cho cuộc triệt thoái, và cuộc rút quân trở nên hỗn loạn trên đường tháo chạy. Nhiều lính miền Nam phải đào ngũ, và quân miền Bắc cứ thế tiến quân, không gặp khó khăn.
Hai thành phố chính ở phía bắc Saigon là Huế và Đà Nẵng mau chóng bị rơi vào tay địch. Huế mất vào ngày 25 tháng Ba, Đà Nẵng mất sau đó năm ngày. Và Quân Miền Bắc không bắt ai làm tù binh cả. Hàng chục ngàn người trốn chạy khỏi Huế bằng tàu, thuyền, nhiều người phải bỏ mạng trên biển, đến cuối tháng Ba có hàng triệu người bị mất nhà cửa vì chạy giặc, trở thành người tị nạn. Họ là lính, là thường dân, là bà con họ hàng, gồng gánh nhau đi lánh nạn, khiến cho quốc lộ 7B bị dồn cục, tắc nghẽn. Từng đoàn xe tải chở dân tỵ nạn nối đuôi nhau trên đường quốc lộ này. Đó là hình ảnh của Đoàn Xe Đầy Nước Mắt- Convoy of Tears.
Ngày 29 tháng Ba, một nhà thầu tư nhân dùng phản lực cơ 747 bay ra Đà Nẵng với nhiệm vụ đi cứu trẻ em, và phụ nữ. Ngay khi vừa đáp xuống phi trường, bọn lưu manh chạy ùa ra phi đạo bằng đủ mọi phương tiện, xe gắn máy, xe jeep và cả chạy bộ. Ba trăm người đã leo kịp lên máy bay trước khi máy bay cất cánh. Người chạy sau đưa súng bắn chết người đứng trước để dành chỗ lên máy bay. Đàn bà và trẻ em ngồi chật cứng trên máy bay. Khi máy bay cất cánh, có người còn ném lựu đạn vào máy bay khiến cho một bên cánh bị hư hại. Chỉ có năm người lớn tuổi là đàn ông, đa số còn lại là lính, lên được vào trong máy bay. Có một số chui vào khoang chứa hành lý đồ đạc. Bảy người đu người theo bánh xe bên ngoài máy bay, và rơi xuống đất mất tích khi máy bay bay lên cao. (Hình ảnh tương tự được nhà văn Nguyễn Thanh Việt miêu tả trong cuốn “The Sympathizer”. Hoàn cảnh tuyệt vọng này, được mô tả trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời, người đọc không thể hiểu, hay tin được nếu không biết qua về lịch sử chiến tranh Việt nam.
Trong tuần lễ bắt đầu từ ngày 21 tháng Tư, Không Quân Hoa Kỳ bắt đầu những chuyến bay chở người di tản ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất của Saigon. Những ai có tên trong danh sách di tản, được xe buýt đến đón đưa vào trong phi trường, nhưng cũng có khi xe buýt không đến đón, hay có khi nằm trong danh sách giả, không đúng sự thực.
Tại phi trường Tân Sơn Nhất, có rất nhiều người đứng chờ. Đủ mọi trò lừa đảo được sử dụng, khi thì cho rằng mình có người thân làm việc cho Mỹ, khi thì nói gia đình đã được đưa vào bên trong, một ông đã dùng giấy tờ giả đưa được ba bà vợ vào bên trong, có người chìa tiền ra để hối lộ công khai. Có người đóng kịch bi thương đang nằm trên cáng, và được xe cứu thương hú còi đem vào. Một số chuyến bay dành riêng cho trẻ mồ côi cũng được tổ chức. Người ta hy vọng quân đội miền Bắc sẽ không làm hại trẻ mồ côi. Chuyến bay đầu tiên di tản trẻ em mồ côi bị rơi, làm chết 138 người trong đó có 78 trẻ em.
Tuy nhiên, theo tác giả Max Hasting trong cuốn sách viết về quân sử tuyệt vời của quân đội Hoa Kỳ: “Viet nam: An Epic Tragedy: 1945-1975” xuất bản năm 2018 thì máy bay của Không Quân Mỹ đã thực hiện được 304 chuyến bay ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, di tản được gần 43,000 người Mỹ và người Việt. Sau đó, vào sáng sớm ngày 29 tháng Tư, quân Bắc Việt pháo kích vào phi trường khiến cho các phi đạo không còn sử dụng được. Hai người lính Mỹ sau cùng bị giết chết trong đợt pháo kích này là Hạ sĩ Charles McMahon và Hạ Sĩ Darwin Judge. Họ là hai người lính Mỹ sau cùng chết trong chiến tranh Việt Nam.
Vào lúc đại sứ Martin cho phép thực hiện việc di tản,lúc đó chỉ còn cách duy nhất để thoát khỏi Việt Nam là bằng phi cơ trực thăng. (Trước đó, ông đại sứ đã phản đối không ký lệnh cho phép di tản người tỵ nạn bằng tàu kéo đưa ra sông Saigon, theo ông trông cảnh đó bi thảm quá, và vô lương tâm). Tiếc thay, chiến dịch di tản bằng trực thăng mang tên là Operation Frequent Wind là giải pháp tuyệt vọng sau cùng. Nóc, và sân sau của bin đinh sứ quán Mỹ và 13 bin đinh cao tầng khác ở Saigon và Tân Sơn Nhất được chọn làm địa điểm để máy bay trực thăng đến bốc người di tản. Người ta tụ tập đứng chờ rất đông, với hy vọng sẽ có được một chỗ trong máy bay trực thăng bốc họ đi di tản.
Tác giả Hastings kể lại rằng trong khoảng thời gian hơn 18 giờ đồng hồ, máy bay trực thăng của TQLC Mỹ thực hiện được 682 phi vụ, đem đi được 1,373 người Mỹ và 5,595 người Việt, và người quốc tịch khác ra những con tàu đang đậu ở ngoài biển Đông. Ở đó có Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ chờ sẵn. Khi trực thăng không có đủ chỗ đáp trên hàng không mẫu hạm, người ta đổ người tỵ nạn xuống, và xô máy bay trống không cho rơi xuống biển. Khoảng ba chục hay bốn chục trực thăng đã bị xô cho chìm xuống biển.
Trên đường phố Saigon lúc bấy giờ tình trạng hôi của, cướp bóc xảy ra khắp nơi. Lính Việt Nam Cộng Hòa cởi bỏ quân phục ngay ngoài đường phố, chỉ còn mặc quần lót vì sợ bị quân Bắc Việt nhận diện. Tại Sứ quán Mỹ, người ta hối hả, vội vàng thủ tiêu những tài liệu mật, quan trọng để tránh việc trả thù của Cộng quân. Trong khi đó, máy bay trực thăng bay vần vũ trên trời khiến cho giấy tờ bị cắt bỏ bay tung tóe xuống sân của Sứ quán. Tòa đại sứ bị cướp, và khoảng năm triệu đô la đã bị đốt cháy.
Ông đại sứ Martin ra đi bằng chuyến trực thăng áp chót, lúc 4 giờ 58 phút sáng ngày 30 tháng Tư. Cuối cùng thì tất cả người Mỹ cần được di tản đã được bốc đi. Nhưng hàng ngàn người Việt, từng làm việc hay cộng tác với người Mỹ đã bị bỏ lại để rơi vào tay Bắc Việt tùy họ xử lý. Nhiều người đã được hứa là sẽ được bốc đi di tản. Họ đã bị lừa gạt. Trước lúc ông Martin ra đi, chính Tổng thống Ford đã ra lệnh rằng chỉ có người Mỹ mới được bốc lên trực thăng, và ông Martin cũng như Kissinger sợ rằng nêu người Việt biết được chuyện này, họ sẽ bắt đầu bắn chết người Mỹ vì phản bội họ. Khi chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Tòa Đại Sứ, lúc 7 giờ 53 phút sáng ngày 30 tháng Tư, khoảng 430 người Việt vẫn còn đứng chờ dưới dân Tòa Đại Sứ để được di tản đúng theo lời hứa. Hàng ngàn người khác đang đứng tụ tập ở cổng Tòa Đại Sứ.
Những người sau cùng ra đi chính là 11 lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ Tòa Đại Sứ. Khi họ lên đến nóc tòa đại sứ, họ ném lựu đạn cay xuống bậc thang gần nóc nhà, để ngăn ngừa người Việt tìm cách bám theo họ. Những lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ gác Tòa đại sứ đã phải đợi hai tiếng đồng hồ trực thăng mới đến bốc họ đi, một người lính TQLC bị trượt chân, không leo lên được trực thăng, phải dùng dây cho anh ta bám vào, và kéo anh ta lên. Tên anh ta là Juan Jose Valdez, Trung Sĩ, quê quán ở Texas. Anh đã đến Việt Nam trước đó 10 năm. Anh ta là một trong những người lính TQLC đầu tiên đến Việt nam, và anh cũng là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt nam.
Cảnh Saigon bị mất vào tay quân thù được rất nhiều người viết, và sưu tầm. Hàng trăm phóng viên, nhiếp ảnh gia báo chí sang Việt nam để chứng kiến một cuộc chiến tranh kéo dài ba chục năm, với hàng triệu người chết. Họ đến và ghi lại những cảm nghĩ của họ về cuộc chiến này. (Ký giả Hunter S. Thompson cũng đến nhân danh báo Rolling Stones nhưng ông không viết gì nhiều)
Nhà văn người Anh, James Fenton đến Việt nam được chứng kiến khúc cuối của cuộc chiến. Hình như là do tình cờ, ông ta được ngồi trên chiếc xe tăng của quân Bắc Việt tiến vào sân Dinh Độc lập ở Sai gon. Trong bài viết “Fall of Saigon” đăng trên báo Granta năm 1985, ông kể lại câu chuyện này theo phong thái của một loại văn kinh điển. Ông Philip Caputo sang Việt Nam năm 1965 trong vai trò người lính TQLC, và trở về nước năm 1975 đã mô tả cuộc di tản trong một bài ký rất xuất sắc, tên là “Rumor of War” (1977). Ông được bốc đi bằng máy bay ra khỏi Tân Sơn Nhất vào ngày 29 tháng Tư năm 1975.
Quan chức người Mỹ cũng kể lại về cuộc di tản tang thương này. Đáng nói nhất là tác phẩm phân tích rất kỹ của một nhân viên C.I.A, ông Frank Snepp, tên là “Decent Interval” (hai ông Richard Nixon, và Kissinger đặt ra cái tên này để ám chỉ giai đoạn Việt Nam Hóa Chiến Tranh giúp Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam mà không bị làm nhục, và họ bỏ rơi miền Nam cho cộng sản Bắc Việt vào tấn công).
Phim tài liệu về những ngày cuối của Ken Burns và Lynn Novick ghi lại rất kỹ trong bộ phim tài liệu 10 tập của đài PBS- The Vietnam War- 2017 , và bộ phim tài liệu dài 13 tập: “VietNam: A Television History” (1983). Đây là hai bộ phim tài liệu khá đầy đủ. Ngoài ra, còn phải kể đến những tấm hình chụp được của nhiếp ảnh gia Hòa Lan rất nổi tiếng- Hubert van Es: Ghi lại hình ảnh hàng dài người đứng nối đuôi để bám lấy dây thang leo lên trực thăng đang bay lơ lửng trên nóc nhà. (Thực ra nóc nhà trong tấm hình không phải nóc nhà của Tòa Đại Sứ Mỹ, và chiếc trực thăng trong hình không phải là chiếc sau cùng rời khỏi Việt Nam. Đó là máy bay Air America, của cơ quan CIA, cơ quan này có một hệ thống máy bay của riêng họ)
Một lý do khiến cho việc kết thúc chiến tranh ở đây là một cú sốc bất ngờ, bởi vì nguyên thủy cuộc chiến này không bao giờ có hồi kết. Ông Daniel Ellsberg’s, người công bố Tài Liệu Mật của Ngũ Giác Đài- Pentagon Papers gọi cuộc chiến này là “một cỗ máy bế tắc”. Tuy nhiên tác giả Tamarkin lại gọi là “Done in a Day” bởi vì cuộc chiến cuối cùng đã sản sinh ra một kết thúc không làm ai ngạc nhiên. Tin tình báo cho biết cuộc chiến tranh sẽ chỉ kết thúc khi Hoa Kỳ bị bại trận mà thôi.
Các vị Nguyên Thủ Quốc Gia nhiều nước từ Tổng thống Charles De Gaulle của Pháp đến Thủ tướng Jawaharlal Nehru của Ấn Độ đều cảnh cáo các ông Tổng thống Mỹ rằng họnên tránh xa ra khỏi vùng Đông Nam Á. Vào tháng 10 năm 1965, khi Kissinger ghé thăm Saigon, trong vai trò cố vấn cho đại sứ Henry Cabot Lodge, ghi lại trong cuốn nhật ký của ông ta rằng: “Không có một ai ở đây có thể giải thích cho tôi biết làm cách nào để kết thúc cuộc chiến, dù cho có những điều kiện rất thuận lợi.”.
Tập tài liệu của Ngũ Giác Đài tiết lộ rằng chính phủ Mỹ đã biết từ lâu rằng cuộc phiêu lưu ở Việt nam sẽ chết sớm, yểu tử. Sau năm 1968 (biến cố Mậu Thân), người ta biết người Mỹ phải bỏ rơi cuộc chiến này, miễn là tránh không để bị bại trận. Richard Nixon gọi né tránh là “Hòa Bình Trong Danh Dự”. Năm 1968, Richard Nixon ra tranh cử Tổng thống với lời hứa là “Sẽ chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Nhưng vào lúc nhóm lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt nam , tháng Ba năm 1973, đã có thêm 23,000 lính Mỹ bị chết. Những cái chết này được vinh danh tại nghĩa trang quốc gia. So với năm 1969, Hoa Kỳ không gặt hái gì thêm được chút gì vào năm 1973.
Tác giả Tamarkin có một góc nhìn hoàn toàn mới về ngày Saigon bị mất vào tay Cộng sản Bắc Việt. Điều này mang tính chất cá nhân: Cha dượng của của bà, ông Bob Tamarkin là người bay ra khỏi Saigon bằng chuyến bay dân sự cuối cùng vào sáng ngày 30 tháng Tư. Ông Bob không phải là một quan chức người Mỹ. Ông chỉ là một ký giả, giữ chức trưởng nhiệm sở của báo Chicago Daily News ở Saigon. Ông tìm cách leo tường vào sân sau của Tòa Đại Sứ Mỹ, sau đó, chạy lên nóc tòa nhà và bay ra khỏi Việt Nam. Ông là người phóng viên sau cùng rời khỏi nơi đây.
Ông được bay đến chiếc tàu USS Blue Ridge, một loại tàu lội nước. Sau đó ông được chuyển sang chiến hạm USS Okinawa. Ngồi trên chiến hạm, ông viết lại nhật ký kể về những giờ sau cùng của ông ở Saigon. Bài ký của ông được đăng trên báo Chicago Daily News ngày 6 tháng Năm. Đoạn kết của bài ký này ông viết như sau: “Chiếc trực thăng chở tôi cất cánh bay lên cao, đèn đỏ của máy bay chớp lấp lóe, và hướng về Biển Đông. Hành khách trên chuyến bay, trong đó có tôi, ngồi lặng yên, nín thở,mệt mỏi ngồi trong bóng tối, cảm thấy tê dại cả người. Một vài người cảm thấy choáng váng. Họ không thể tin được người Mỹ lại phải rút lui trong cái cung cách hèn hạ như thế này, lén lút ra đi trong bóng tối.”.
Ở sân sau dưới kia, một chiếc trực thăng khổng lồ tìm cách hạ cánh, đèn pha xe của đủ mọi loại, xe du lịch, xe vận tải, quanh bãi đậu xe, chiếu đèn sáng rực để trực thăng thấy đường đáp xuống.
Hàng trăm người Việt Nam ngóng cổ chờ đợi chiếc trực thăng khác sẽ đáp xuống.
Nhưng không có chiếc trực thăng nào đến đón họ nữa.
Tác phẩm “Done in a Day” là cuốn sách không có tài liệu mật. Nó không phải là cuốn hồi ký, cũng không phải là cuốn tự truyện. Cô bé Elisa Tamarkin mới có bốn tuổi khi Saigon sụp đổ. Cô và mẹ cô có dịp đến Saigon, nhưng chỉ ở lại đó trong vài tuần lễ. (Hai mẹ con đã được gửi sang Hong Kong từ hồi tháng Tư). Vì thế tác giả không có chuyện gì để kể cho chúng ta về chuyến di tản bi thảm. Và ông Bob Tamarkin qua đời khi cô Elsa đang học chương trình Thạc Sĩ. Bây giờ cô là Giáo Sư Anh Ngữ ở trường đại học. Hình ảnh cha dượng của cô chỉ là một hình ảnh xa xăm trong sách của cô thôi.
Thật khó để mà quyết định xem cuốn sách này được viết ra có một chủ ý hay chỉ là vô tình. Nhưng dù cho cô Elsa nghĩ sao về ông cha dượng, một bậc cha mẹ của cô, rõ ràng cô đã dùng hết cả tâm huyết của mình để đào xới lại một giai đoạn hết sức đặc biệt trong cuộc đời của ông Bob. Trong đó, ông chứng tỏ mình là chủ thể duy nhất, và hết sức đặc biệt. Khi nghiên cứu kỹ tâm trạng của cha, cuối cùng cô đã tìm thấy được hình ảnh của cha, nằm sâu trong phần sau của đầu ông- hình ảnh của đám đông tìm cách leo qua tường của Tòa Đại Sứ, giống như ông đang sống lại cái cảnh đi tìm sự sống giữa cái chết, dù chỉ thoáng qua thôi. Có lẽ để xếp loại cho đúng thì cuốn “Done in a Day” phải được gọi là MỘT KHÚC BI CA. Sách của tác giả Tamarkin là một loại “Hộp thời gian” kể lại một giai đoạn cuối thập niên sang đầu thập niên bảy mươi. Có khá nhiều tác phẩm khác cũng thuộc thể loại này, từ cuốn “The Sense of Ending” của Frank Kermode, đến cuốn sách nổi tiếng “I’m OK- You’re OK” của Thomas Harris.
Nhưng cuối cùng thì chủ đề chính rút ra được từ cuốn truyện của Tamarkin không phải là chuyện Việt Nam, mà là chuyện của báo chí, của ngành làm báo. Khi chiến tranh chấm dứt thì cũng là giai đoạn nhật báo ra hàng ngày của Mỹ bắt đầu đi vào giai đoạn kết thúc. Trong cuốn sách của bà, bà miêu tả ông Bob như một ký giả ngoại quốc chính cống, trong chiếc áo khác ngoài chùm đầu gối, loại trench coat, không bao giờ viết trong thể loại xưng cái tôi là nhân vật trong bài báo. Tờ Chicago Daily News là báo đầu tiên gửi ký giả sang đóng trụ ở nước ngoài, ngay cả lúc thời bình, từ năm 1898. Tờ báo đóng cửa văn phòng ở ngoại quốc vào năm 1976, một năm sau khi ông Bob được trực thăng bốc ra khỏi Saigon. Tờ báo đóng cửa hẳn vào năm 1978.
Cuốn sách của Tamarkin mang tựa đề là “Done in a Day”, dĩ nhiên dùng để ám chỉ sự kiện Saigon bị thất thủ. Nhưng trong phòng tin của tòa báo Chicago Daily News, cái khẩu hiệu “Done in a Day” được viết thật lớn, và là khẩu hiệu làm việc của tòa báo. Câu này ám chỉ rằng họ làm xong phẩm chất đạo đức của nghề làm báo. Mỗi đề tài trong ngày đều đã được viết đầy đủ để nói hết những tin tức cần thiết trong ngày, không có tin cũ, và cũng không có tin nào chưa được viết xong.
Đối với tác giả Tamarkin, tựa đề “Done in a Day” còn mang tính chất riêng tư, câu chuyện của riêng cá nhân bà. Theo bà các thông tín viên gửi tin về tòa soạn bằng máy telex. Đó là loại máy tiêu chuẩn sử dụng vào thời bấy giờ. Vì thế tựa đề của câu chuyện có thêm ít chữ: Telex from the Fall of Saigon. Giáo sư Anh Văn không dùng máy Telex ở trường đại học.
Chiến tranh Việt nam là chủ đề chính của tất cả các loại báo hàng ngày, bởi vì cuộc chiến tranh ở Việt nam là cuộc chiến được tường trình rất nhiều qua báo chí và đài truyền hình. Vào lúc cao điểm của cuộc chiến, có tới gần 700 phóng viên chuyên nghiệp đến Việt nam. Ba chục ký giả bị chết, từ nạn trong lúc tường thuật về cuộc chiến tranh. Đặc biệt lúc bấy giờ giới báo chí được phép đi đến bất cứ nơi nào họ muốn. (Nhiều quan chức Mỹ sau này cho rằng đây là một sai lầm rất lớn. Về sau họ không cho phép báo chí đi đến sát trận tuyến). Phóng viên được phép sử dụng cùng phương tiện chuyên chở của binh lính, được ăn và ngủ chung với lính, và trong chiến dịch “search and destroy” họ còn được phép theo sau lính Mỹ. Họ cũng được phép chụp hình bất cứ hình ảnh nào họ muốn ghi lại. Ký giả kiêm nhiếp ảnh gia người Pháp Catherine Leroy trong cuốn sách của bà : “One way ticket to Vietnam 1966-1968 kể lại rất chi tiết việc làm của các phóng viên chụp hình cuộc chiến).
Truyền hình lúc bấy giờ là một dụng cụ truyền thông vô cùng hiệu quả, và có trọng lượng. Hàng đêm, có khoảng ba chục triệu người Mỹ theo dõi bàn tin buổi chiều của đài CBS với ký giả Walter Cronkite. Bà Tamarkin kể lại rằng tuần báo The New Yorker khi viết bài bình luận về vai trò của truyền hình trong cuộc chiến ký giả Michael Arlen đã dùng cụm từ “The living room war”để gọi chiến tranh Việt Nam. Cụm từ này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1966, có nghĩa là người Mỹ theo dõi, và học kinh nghiệm hàng đêm về chiến tranh qua đài truyền hình. Song bà Tamarkin còn nói thêm rằng sau năm 1965, người Mỹ suốt ngày hít thở không khí chiến tranh qua truyền hình. Theo ký giả Arlen thì chiến tranh Việt nam ở khắp mọi nơi trong cuộc sống ở Mỹ.
Nhưng tại sao lại có sự kiện như vậy? Cuộc chiến mau chóng trở thành đề tài chính trong tình hình chính trị Mỹ là điều khá bí mật. Hình như mọi người đang chờ đợi một điều gì bất thường xảy ra. Trong vòng ba ngày sau khi lính TQLC đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng, năm 1965, một nhóm giáo sư đại học ở Michigan đã họp với nhau để đi tìm câu trả lời. Họ kêu gọi mọi người cần phải tổ chức bãi công, không học, không làm, gọi là “teach-in” diễn ra vào ngày 24 tháng Ba, kéo dài từ 8 giờ tối cho đến suốt cả đêm. Cuộc bãi công chỉ bị gián đoạn khi nghe nói sẽ bị ném bom.
Hai ngày sau, một cuộc đình công “teach in” khác diễn ra ở trường đại học Columbia. Vào ngày 17 tháng Tư, sau khi lính Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng vừa đúng một tháng thì có cuộc biểu tình tuần hành ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn với hơn hai chục ngàn người tham dự. Cuộc biểu tình do tổ chức Students for Democratic Society đứng ra tổ chức. Ngày 21 tháng Năm, một cuộc bãi công “teach in” khác diễn ra trong khuôn viên trường UC Berkeley ở California, với 36 ngàn người tham gia, và kéo dài 36 giờ. Và trong suốt bốn năm sau, nhiệt độ phản đối ngày càng tăng lên cao. Mọi người đều biết rằng ngay từ ngày đầu khi cuộc chiến có vẻ như sẽ xảy ra, nó đã bắt đầu gặp cản trở, không êm thắm.
Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1953, đã có 38, 574 người Mỹ tử trận ở Triều Tiên, tỷ lệ chết cao hơn tỷ lệ lính Mỹ chết trong chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến ở Triều Tiên không được nổi tiếng, ưa chuộng, nhưng không hề có biểu tình chống chiến tranh kiểu : “Hoa Kỳ hãy cút khỏi Triều Tiên”. Nếu đem so sánh, thì khi gửi vài lính TQLC sang Đà Nẵng, thì đó mới chỉ là một tia lửa lóe lên mà thôi. Vậy mà sau đó, nó đã trở thành đám cháy lớn, phải mất cả năm trời mới dập tắt được. Đó chính là vết thương người Mỹ phải chịu đựng.
Nếu chúng ta muốn tự mình tìm sự an ủi theo cái nghĩa mà các sử gia gọi là “Hồi tưởng thuyết định mệnh” chúng ta cũng dễ dàng kết nối những điểm chính trong chiến cuộc, để biết xem vì đâu mà nó đưa đến cuộc rút lui, tháo chạy bằng trực thăng trong tủi nhục. Ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Hoa Kỳ và hai chính phủ Bắc và Nam Việt Nam cùng ký vào Hiệp Định Paris do ông Henry Kissinger đứng ra thương thuyết. Lúc bấy giờ Kissinger là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho Tổng thống Richard Nixon, và bên phía Bắc Việt, họ cử nhà ngoại giao Lê Đức Thọ đi dự hòa đàm. Mặc dù vào cuối năm đó, Kissinger và Thọ cùng được trao giải Nobel Hòa Bình, song Kissinger biết thừa rằng hiệp định Paris vừa ký kết là bản khai tử cho chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Ông ta không nghĩ rằng miền Bắc sẽ tự động bỏ cuộc, ngừng đánh nhau. Ông ta thương thuyết vì ông ta tin vào cái gọi là “decent interval” -khoảng thời gian tử tế, không bên nào giở trò lưu manh-. Đó là khoảng thời gian Mỹ rút quân về nước, và miền Nam sẽ bị sụp đổ. Hoa kỳ có thể bỏ thí cuộc chiến mà không bị xem là thua trận.
Điều khoản chính trong Hiệp Định là Hoa Kỳ thỏa thuận rút quân về nước để đổi lại cho việc gần 600 tù nhân chiến tranh POW người Mỹ đang bị giam ở miền Bắc được thả ra đưa về Mỹ. Tù binh Mỹ bị nhốt trong nhà tù nổi tiếng tên là “Hà Nội Hilton” (miền Nam cũng thả khoảng ba chục ngàn tù binh chiến tranh là những cán binh cộng sản. Điều này ít khi nào được nhắc đến.) Một trong những tù binh Mỹ bị giam lâu nhất ở Hà Nội là người phi công Mỹ bị bắn rơi hồi tháng Tám năm 1964. Tù binh này bị giam tổng cộng tám năm rưỡi. Đến năm 1973, thì dư luận Mỹ chẳng thèm để ý gì đến số phận của miền Nam Việt Nam. Họ chỉ chú ý đến số phận của các Tù Binh Mỹ – POW- mà thôi. Lúc đó là thời kỳ treo dải băng màu vàng- “Tie a Yellow Ribbon.”. Nếu nói về khía cạnh chính trị nội địa nước Mỹ, người Mỹ chẳng cần biết đến hiệp định sẽ làm được điều gì, họ chỉ cần đem Tù Binh Mỹ về nước mà thôi. (Về sau này, tình cảm của dân Mỹ chuyển sang việc đi tìm người mất tích – MIA’s).
Những phần quan trọng nhất trong Hiệp Định Paris không phải là những điều khoản trong Hiệp Định. Quan trọng hơn cả là những lá thư riêng, do Kissinger viết bản thảo, và ông Nixon gửi cho ông Nguyễn Văn Thiệu cố gắng thuyết phục ông Thiệu nên ký vào Hiệp Định Paris. Trong những lá thư riêng này, ông Nixon nhắn với ông Thiệu: “Tôi đảm bảo một cách tuyệt đối với ông rằng nếu Hà Nội từ chối không làm đúng theo quy định của Hiệp Định, tôi nhất định sẽ làm việc trả đũa thật mau chóng, và cấp kỳ.”. Ông ta còn nói thêm: “Hoa Kỳ sẽ đáp trả bằng hết sức mạnh của mình nếu Bắc Việt Nam vi phạm những quy định của Hiệp Định.”. Ông Thiệu không đời nào chịu ký vào Hiệp Định nếu ông không có sự đảm bảo như lời hứa của ông Nixon. Nghe nói ông Thiệu từng tuyên bố một câu nổi tiếng về ông Nixon như sau: “Ông ấy là một người lương thiện, đứng đắn. Tôi sẽ tin ông.”.
Ngay lập tức, cuộc ngừng bắn bị cả hai bên vi phạm, nhưng chỉ là những vi phạm nhỏ. Phe Bắc Việt biết rõ về lời hứa bí mật của Nixon, một chính khách mưu mô tàn độc. (Bắc Việt rải gián điệp đầy rẫy trong miền Nam, kể cả trong Dinh Độc Lập). Mặc dù trong nhiều năm họ đã cắn răng cam chịu nhiều cuộc ném bom khốc liệt của Mỹ. Chúng ta nên nhớ rằng Hoa Kỳ đã ném bom gấp ba lần tổng số bom mà Đồng Minh từng ném trong suốt Đệ Nhị Thế Chiến. Bắc Việt vẫn nơm nớp sợ bom B-52, nên chi họ không dám làm mạnh quá trong việc tiến chiếm miền Nam. Họ cũng cần có thời giờ để tạo dựng lại sức mạnh của họ.
Do đó, trận đánh sơ khởi đầu tiên trong đợt tổng tấn công năm 1975 chỉ là đánh thăm dò, thử sức cho biết. Thoạt đầu họ tiến đánh Ban Mê Thuột, chiếm thủ phủ địa phương, và ngồi vái van cầu nguyện, chờ phản ứng của phe địch sẽ ra sao. Thế rồi chẳng có gì xảy ra. Phe địch không dám phản công. Người Mỹ cũng không đem Thủy Quân Lục Chiến đến để phản công. Họ cũng không đưa máy bay đến dội bom. Hoa Kỳ muốn nhắn nhủ với Bắc Việt rằng: “ Mấy anh chỉ cần giải quyết vấn đề ông Thiệu thôi.” Thế là phía Bắc Việt nhận được tín hiệu của Mỹ. Họ bật đèn xanh cho Bắc Việt cứ đánh đi, chúng tôi buông xuôi tay rồi. Phía Bắc Việt biết rằng từ nay miền Nam sẽ không còn được người Mỹ bảo vệ ở dưới đất cũng như bằng sức mạnh trên không. Và như thế có nghĩa là đã đến lúc chín mùi để chiếm lấy miền Nam. Chiến dịch quân sự họ dự trù sẽ phải mất hai năm, bây giờ chỉ cần hơn hai tháng là họ chiến thắng.
Khi quân miền Bắc tập trung bao vây Saigon, ông Thiệu năn nỉ người Mỹ cấp viện trợ thêm cho miền Nam, nhưng Quốc Hội Mỹ lúc bấy giờ không ở tâm trạng sẵn lòng đổ thêm tiền vào cái lỗ không đáy ở vùng Đông Nam Á. Trong bài diễn văn đọc ở trường đại học Tulane ngày 23 tháng Tư, Tổng thống Gerald Ford nói thẳng ra rằng cuộc chiến tranh Việt Nam, đứng về góc nhìn của người Mỹ thì nó đã chấm dứt rồi. Câu nói này được nhiều người hiện diện đứng dậy hoan nghênh nhiệt liệt. Ông Thiệu nghe rõ điều này. Ngày 26 tháng Tư ông tuyên bố từ chức nắm quyền Tổng thống miền Nam Việt Nam, chạy sang Đài Loan.
Ngày 30 tháng Tư thì miền Nam chẳng còn gì cả. Khi ông Tổng thống mới là Dương Văn Minh đề nghị trao quyền hành cho phe miền Bắc thì quân Bắc Việt cười lớn, nói với ông: “Mọi quyền hành đã được chuyển sang cho quân cách mạng rồi. Các ông có gì nữa đâu để mà trao quyền hành.”.
Phe Bắc Việt không làm gì để can thiệp vào chiến dịch di tản của người Mỹ- Operation Frequent Wind- . Mục tiêu của họ chỉ là đuổi hết sạch người Mỹ ra khỏi Việt Nam, và họ rất mừng khi thấy người Mỹ tự động ra đi, tự mình trục xuất hồi hương. Sau đó, cũng chẳng hề có vụ tắm máu gì cả. Có một số trường hợp xử bắn, giết nhau, song đó chỉ là chuyện tư thù, không phải là chính sách từ Bộ Chính Trị ở Hà Nội đưa ra. Dù sao đi nữa thì Bắc Việt cũng không có cùng chí hướng về ý thức hệ với đám sinh viên Mỹ, hay với cô đào Jane Fonda. Họ là những kẻ độc tài chuyên chính chính hiệu, và khôn ngoan. Có lẽ có khoảng vài triệu người miền Nam đã bị bắt, và nhiều người bị đưa vào các trại cải tạo. Gia đình của họ được chính quyền nói rằng chỉ đi học tập trong vài ngày rồi về, nhưng thực tế, họ bị đi tù, có người phải tù đến 17 năm. Trong khi đó, khoảng thời gian từ 1975 đến 1995 có hơn ba triệu người Đông Dương tiếp tục trốn chạy khỏi sự cai trị của Cộng Sản. Lần này họ ra đi mà không được người Mỹ giúp đỡ. Họ ra đi bằng những chiếc thuyền nhỏ mong manh trên biển Đông. Ít nhất là có khoảng hai trăm ngàn người đã phải bỏ mình ngoài biển khơi.
Vậy thì Hoa Kỳ đã chiến đấu, đã đánh nhau ở Việt Nam để làm gì? Hai chữ “Nhục Nhã” hay “Bị Sỉ Nhục” -Humiliation- là những chữ được dùng đi dùng lại rất nhiều lần trong văn thư của chính quyền Mỹ tính từ ngày họ gửi lính TQLC sang Việt Nam năm 1965. Trong tháng ba, ngay sau khi lính Mỹ đến Đà Nẵng, Thứ trưởng Quốc Phòng, ông John McNaughton đã viết một memo đánh giá tình hình về việc mục tiêu của người Mỹ ở Việt Nam là gì.Theo quan điểm của ông mục tiêu chính là để “tránh xảy ra trường hợp Hoa Kỳ bị đánh bại trong tủi nhục.”. Ông chia ra ba phần như sau: 70% là để tránh bị làm nhục. 20% là giúp vùng Đông Nam Á không bị rơi vào tay Trung Cộng, và phần ba chỉ có 10% là muốn giúp người dân miền Nam Việt Nam có một đời sống tự do và tốt đẹp hơn.
Vào cuối tháng Sáu, một quan chức khác trong bộ Ngoại Giao là ông George Ball nói với Tổng thống Lyndon Johnson rằng: “Khi chúng ta bị nhiều thiệt hại, chúng ta phải nghĩ cách lật ngược tình thế. Sự can dự của chúng ta sâu đậm quá mất rồi, nên rất khó tránh được sự sỉ nhục mang tầm vóc quốc gia khi chúng ta dừng ngang, vội vã, chưa hoàn tất được mục đích đặt ra. Giữa hai khả năng chúng ta có thể làm được, tôi nghĩ làm cách nào để tránh không bị sỉ nhục sẽ dễ làm hơn là cố đạt cho được mục tiêu của mình, mặc dù chúng ta đã đổ xương máu quá nhiều.”.
Nói khác đi, ngay từ đầu, quyền lợi tối thượng của người Mỹ ở Việt Nam là “giữ thể diện” là “face” là cái mặt mo. Điều quan trọng nhất là phải giữ cái thể diện đó. Phải làm đủ mọi cách để không bị mang tiếng là kẻ bại trận. Ông Johnson có lần đã tâm sự với giáo sư Sử Học Doris Kearns Goodwin rằng: “Nếu tôi phải chia tay với người đàn bà tôi yêu- ám chỉ đạo luật Great Society nổi tiếng của ông để đổi lấy việc phải gian díu với con đàn bà là cuộc chiến tranh ở tít bên đầu kia của thế giới, và tôi sẽ phải mất tất cả những gì tôi có ở trong nước…Thế thì thà tôi bỏ rơi miền Nam Việt Nam để cho cộng sản nó chiếm, khi đó tôi bị xem là đứa hèn nhát, và nước tôi bị xem là nước hèn hạ, và chúng ta sẽ không đạt được cả hai điều này ở bất cứ nơi nào trên địa cầu.”
Ông Johnson bắt buộc phải điều gì đó để cho thấy ông có làm việc.
Tình hình hiện nay ở Mỹ giống hệt như tình hình ở Việt Nam trước kia. Chỉ khác ở chỗ nó diễn biến quá nhanh. Cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Iran đã mau chóng đi đến giai đoạn là làm sao giữ được thể diện- “face”, giữ được cái mặt mo để không bị làm nhục. Mới chỉ trong vòng hai tuần lễ, Hoa Kỳ đã phải tìm cách kết thúc cuộc chiến tranh mà không để bị xem là kẻ bại trận. Trong lúc đó, nhiều người bị giết chết.
Nguyễn Minh Tâm dịch theo THE NEW YORKER ngày 20/4/2026



