Việt Nam đang đẩy mạnh các cuộc tiếp xúc với giới chức và những tổ chức tôn giáo tại Hoa Kỳ nhằm thắt chặt bang giao giữa hai nước. Thế nhưng, những lời tố cáo từ các tổ chức quốc tế về tình trạng đàn áp tín ngưỡng vẫn phủ bóng lên những lời tuyên bố cải cách của Hà Nội. Vậy những cuộc tiếp xúc ngoại giao này có đem lại tự do tín ngưỡng thật sự cho người dân, hay rốt cuộc cũng chỉ dừng lại ở những lời hứa hẹn?…
Trong chuyến công du Hoa Kỳ mới đây, Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang tìm cách chứng minh rằng nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời vận động Washington đưa Việt Nam ra khỏi danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Tuy nhiên, những bản phúc trình của các tổ chức quốc tế về tình trạng sách nhiễu và truy bức những cộng đồng tôn giáo độc lập tại Việt Nam vẫn đặt ra một câu hỏi lớn.
Cụ thể trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 13 đến ngày 19 tháng 10 năm 2026, phái đoàn do Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Việt Nam -Nguyễn Đình Khang cầm đầu đã gặp gỡ các tổ chức tôn giáo, cơ quan ngoại giao và giới chức Hoa Kỳ để trao đổi về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam. Trong phái đoàn có đại diện Bộ Công an cùng ba mục sư đại diện cho các hội thánh Tin Lành trong nước. Theo tin VietNamNet, tại thành phố North Wilkesboro, tiểu bang North Carolina, phái đoàn đã gặp Mục sư Franklin Graham, Chủ tịch Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham (BGEA), đồng thời làm việc với tổ chức Samaritan’s Purse, một tổ chức từng trợ giúp Việt Nam trong công tác cứu trợ sau trận bão Yagi năm 2024. Hai bên bày tỏ ý muốn tiếp tục trao đổi, hợp tác và phát huy vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội.
Tại thủ đô Washington, D.C., phái đoàn Việt Nam đã gặp đại diện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và Viện Liên kết Toàn cầu (IGE). Tham dự các buổi tiếp xúc có Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng. Về phía Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có ông Michael George DeSombre, Trợ lý Ngoại trưởng. Buổi làm việc với USCIRF do Giám đốc điều hành Erin Singshinsuk chủ tọa, cùng sự tham dự qua mạng của Chủ tịch Asif Mahmood, Phó Chủ tịch CeCe Heil và ủy viên Rachel Lase.
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang trình bày những thay đổi trong chính sách và luật lệ liên quan đến tôn giáo, nhấn mạnh việc đơn giản hóa thủ tục giấy tờ, công khai cách thức giải quyết hồ sơ và bảo đảm quyền giải trình, khiếu nại cũng như khởi kiện của các tổ chức và cá nhân tôn giáo. Ông cho biết thời gian giải quyết thủ tục hành chánh đã được rút ngắn 50,3%. Đồng thời, ông đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách theo dõi đặc biệt, gọi tắt là SWL, và yêu cầu USCIRF có sự thẩm định khách quan, đầy đủ hơn về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Phía Hoa Kỳ ghi nhận những thay đổi mà phái đoàn nêu ra và cho biết sẽ tiếp tục đối thoại, tìm hiểu tình hình thực tế.
Ngoài những buổi tiếp xúc chính thức, phái đoàn còn đến Thư viện và Bảo tàng Billy Graham tại North Carolina, viếng Bảo tàng Kinh Thánh ở Washington và trao tặng sáu cuốn Kinh Thánh bằng các ngôn ngữ Dao, Mường, Ê Đê, Gia Rai, Cơ Ho cùng một ấn bản song ngữ Việt–Anh. Tại Texas, phái đoàn gặp ông Bill Holmes, người sáng lập tổ chức Vietnamese Bible Inc., đồng thời tiếp xúc với đại diện địa phương để tìm hiểu sinh hoạt tôn giáo. Chuyến đi cũng nhằm mở rộng quan hệ giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo, được thành lập vào tháng 3 năm 2025, với các tổ chức tại Hoa Kỳ. Theo bài báo, Mục sư Franklin Graham dự trù trở lại Việt Nam vào tháng 3 năm 2027 theo lời mời của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, để tham dự chương trình truyền giảng mang tên “Mùa Yêu thương Hà Nội”.
Thế nhưng, đằng sau những cái bắt tay và những lời tuyên bố hữu nghị vẫn còn một vấn đề mà Hà Nội không thể giải quyết chỉ bằng các chuyến công du: những lời tố cáo từ quốc tế về việc hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, nhất là đối với các cộng đồng tôn giáo không đăng ký hoặc không chịu sinh hoạt dưới sự kiểm soát của những tổ chức được nhà nước công nhận. Ngày 12 tháng 12 năm 2024, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ công khai bày tỏ quan ngại trước việc một số nhà sư Khmer Krom bị kết án từ hai đến sáu năm tù, các buổi sinh hoạt và tang lễ của tín đồ Cao Đài độc lập bị gián đoạn, cùng những lời tố cáo về việc ép buộc người Tin Lành thuộc các sắc dân thiểu số tại Tây Nguyên từ bỏ đức tin. USCIRF cho rằng những sự việc này đi ngược lại tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc của Việt Nam, đồng thời kêu gọi Washington gia tăng áp lực để cải thiện tình hình.
Trong bản phúc trình thường niên công bố năm 2026, USCIRF tiếp tục nhận định rằng tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam còn nhiều điều đáng quan ngại. Bản phúc trình dẫn ra những vụ kết án tín đồ Tin Lành người Thượng, Phật tử Hòa Hảo độc lập và các nhà sư Khmer Krom trong năm 2025. Báo cáo cũng nêu trường hợp Y Krec Bya, người bị tuyên án 13 năm tù vào đầu năm 2024. Trước đó, ngày 1 tháng 4 năm 2024, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công khai bày tỏ quan ngại về những bản án dành cho những người hoạt động ôn hòa nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng. Đây là những lời cáo buộc và nhận định từ phía Hoa Kỳ, nhưng chúng cho thấy cuộc tranh cãi không chỉ nằm ở cách giải thích chính sách của mỗi bên, mà còn liên quan đến những vụ việc cụ thể, những con người cụ thể và quyền được hành đạo mà không phải lo sợ bị trừng phạt.
Vấn đề căn bản là Hà Nội có thể khẳng định hiến pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, nhưng quyền ấy có giá trị thực sự đến đâu nếu các nhóm tôn giáo độc lập gặp trở ngại khi xin đăng ký, bị theo dõi, bị ngăn cản sinh hoạt hoặc bị truy tố theo những điều luật an ninh quốc gia có phạm vi áp dụng rộng rãi? Đối thoại với Hoa Kỳ là điều cần thiết, nhưng những lời mời viếng thăm, những món quà Kinh Thánh hay lời hứa đơn giản hóa thủ tục hành chánh không thể thay thế những đổi thay cụ thể, có thể kiểm chứng trong đời sống hằng ngày của tín đồ.
Muốn thuyết phục các đối tác quốc tế, Hà Nội phải chứng minh bằng hành động rằng người dân có thể tự do lựa chọn tổ chức tôn giáo, nhóm họp, truyền đạo và thực hành đức tin một cách ôn hòa mà không bị ép buộc phải gia nhập những tổ chức được nhà nước chấp thuận. Việc công khai minh bạch các vụ việc, cho phép những tổ chức tôn giáo độc lập tiếp xúc với tín đồ và bảo đảm quyền khiếu nại có hiệu quả sẽ có sức thuyết phục hơn nhiều so với những lời tuyên bố ngoại giao. Tình hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ có thể bền vững khi những cuộc đối thoại đi đôi với trách nhiệm giải trình, và quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng bình đẳng đối với tất cả mọi người.
NGƯỜI QUAN SÁT




