Murphy Oil vừa gây chú ý với phát hiện dầu khí Hải Sư Vàng ngoài khơi Việt Nam. Trong lúc tình hình Biển Đông tiếp tục căng thẳng, việc một tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ muốn gia tăng đầu tư tại Việt Nam khiến nhiều người đặt câu hỏi: đây chỉ là bài toán lời lỗ, hay còn có những tính toán chiến lược phía sau?…
Ngày 23 tháng 9 năm 2026, tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam- Tô Lâm đã tiếp ông Eric M. Hambly, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc điều hành Tập đoàn Murphy Oil của Hoa Kỳ. Cuộc gặp diễn ra trong lúc chuyến công tác của ông Tô Lâm tại Hoa Kỳ tập trung vào các vấn đề kinh tế, đầu tư và hợp tác song phương.
Theo những thông tin được công bố, ông Tô Lâm đánh giá cao sự hiện diện của Murphy Oil trong hoạt động thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam, đồng thời đề nghị tập đoàn phối hợp với các đối tác và cơ quan hữu trách để đưa những dự án vào khai thác hữu hiệu, đúng tiến độ. Về phần mình, ông Eric Hambly khẳng định Murphy Oil sẽ tiếp tục gia tăng đầu tư tại Việt Nam, đồng thời sẵn sàng tham gia phát triển kỹ nghệ dầu khí, chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nhân lực.
Điều khiến cuộc gặp này được chú ý là Murphy Oil hiện đang có một dự án dầu khí đáng kể tại Hải Sư Vàng, ngoài khơi Việt Nam. Murphy Oil bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 2012 và hiện là đơn vị điều hành tại các lô 15-2/17 và 15-1/05, với tỷ lệ quyền lợi 40 phần trăm ở mỗi lô; Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí Việt Nam nắm 35 phần trăm và SK Earthon của Nam Hàn nắm 25 phần trăm.
Đầu tháng 1 năm 2026, Murphy Oil loan báo kết quả thẩm lượng rất khả quan tại giếng Hải Sư Vàng-2X. Giếng này đạt lưu lượng thử nghiệm khoảng 6.000 thùng dầu mỗi ngày và cho thấy tầng chứa dầu có tính liên tục. Khi đó, công ty cho biết lượng tài nguyên có thể thu hồi của tầng chứa chính, theo giới hạn trên của ước tính mới, có thể vượt 430 triệu thùng dầu quy đổi. Con số này lập tức gây chú ý, vì Hải Sư Vàng được xem là một trong những phát hiện dầu khí đáng kể tại khu vực Đông Nam Á trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ nằm ở con số 430 triệu thùng. Trong báo cáo gửi các cổ đông ngày 5 tháng 8 năm 2026, Murphy Oil cho biết chương trình thẩm lượng kế tiếp đã cho những kết quả không hoàn toàn giống nhau: giếng Hải Sư Vàng-3X có phát hiện hydrocarbons, trong khi Hải Sư Vàng-4X không cho thấy kết quả thương mại và được ghi nhận là giếng khô. Sau khi tính toán lại toàn bộ dữ liệu, Murphy Oil hiện ước tính tổng tài nguyên có thể thu hồi của Hải Sư Vàng vào khoảng 200 đến 300 triệu thùng dầu quy đổi. Công ty cho biết đang nhắm tới quyết định đầu tư sau cùng vào quý IV năm 2027.
Vậy tại sao một tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ vẫn muốn gia tăng đầu tư tại Việt Nam?
Trước hết, câu trả lời nằm ở khía cạnh kinh tế. Hải Sư Vàng nằm trong vùng nước tương đối cạn, khoảng 150 feet, nhờ đó chi phí phát triển và vận chuyển có thể thấp hơn so với nhiều dự án ở vùng nước sâu. Murphy Oil cũng đang phát triển mỏ Lạc Đà Vàng và xem Hải Sư Vàng như một trung tâm có khả năng mở ra thêm những triển vọng thăm dò trong bể Cửu Long. Nói cách khác, đây không chỉ là câu chuyện của vài trăm triệu thùng dầu, mà còn là câu chuyện về hạ tầng, kỹ thuật, nguồn vốn và khả năng mở rộng hoạt động dầu khí trong cả khu vực.
Tuy nhiên sự hiện diện ngày càng sâu của các doanh nghiệp Hoa Kỳ trong những dự án dầu khí ngoài khơi Việt Nam, liệu có liên hệ gì với vấn đề chủ quyền và an ninh tại Biển Đông hay không?
Cho tới nay, những thông tin chính thức được công bố về Murphy Oil cũng như cuộc gặp ngày 23 tháng 9 không nói rằng tập đoàn này đầu tư vào Việt Nam với mục đích bảo vệ chủ quyền biển đảo cho Việt Nam. Dù vậy, xét trên phương diện chiến lược, dầu khí ngoài khơi và Biển Đông rõ ràng cũng không phải là hai câu chuyện hoàn toàn tách biệt. Khi một doanh nghiệp năng lượng Hoa Kỳ bỏ vốn dài hạn vào những dự án ngoài khơi Việt Nam, quyền lợi kinh tế của doanh nghiệp Hoa Kỳ cũng gắn liền với sự ổn định của môi trường hoạt động. Đây là một thực tế có thể tạo thêm một lớp quyền lợi đan xen giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, gián tiếp là một hiệp ước ngầm bảo vệ chủ quyền.
Trong khi đó, Việt Nam đang đứng trước một bài toán không đơn giản. Một mặt, Việt Nam cần nguồn vốn, kỹ thuật và những đối tác quốc tế để khai thác tài nguyên cũng như bảo đảm an ninh năng lượng; mặt khác, phải bảo vệ quyền lợi quốc gia trong một vùng biển còn nhiều tranh chấp. Sự tham gia của các tập đoàn quốc tế vì thế có thể đem lại thêm lợi ích kinh tế và tạo mức độ gắn kết quốc tế sâu hơn, chính sách ngoại giao kết hợp với các biện pháp pháp lý sẽ giúp Việt Nam nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền lợi trên biển của mình.
NGƯỜI QUAN SÁT



