Hơn 40.000 doanh nghiệp tại Việt Nam giải thể chỉ trong 8 tháng, tăng tới 125,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi những bản báo cáo vẫn liên tục nhấn mạnh các con số tăng trưởng, một câu hỏi khó đang được đặt ra: đằng sau những thành tích trên giấy tờ, nền kinh tế và đời sống của người dân hiện nay ngột thở…
Ngày 3 tháng 9 năm 2026, Cục Thống kê, Bộ Tài chánh Việt Nam công bố báo cáo kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm, với một con số gây chú ý đặc biệt: 40.820 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể, tăng tới 125,5% so với cùng kỳ năm trước. Đằng sau những con số tăng trưởng đẹp đẽ là một thực tế khác: hàng chục ngàn doanh nghiệp đang biến mất khỏi thị trường, hơn 88.000 doanh nghiệp phải tạm ngưng kinh doanh và gần 28.600 doanh nghiệp ngưng hoạt động để chờ làm thủ tục giải thể.

Cũng theo báo cáo, trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam có 138.097 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Cùng với 68.282 doanh nghiệp trở lại hoạt động, tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt gần 206.400, tương đương khoảng 850 doanh nghiệp mỗi ngày. Đây là mặt sáng mà các cơ quan quản lý có thể dùng để chứng minh sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh vẫn còn được duy trì.
Nhưng phía bên kia của bức tranh lại không dễ nhìn như vậy. Trong cùng khoảng thời gian, khoảng 157.400 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Trong số này, hơn 88.000 doanh nghiệp tạm ngưng kinh doanh có thời hạn, gần 28.600 doanh nghiệp ngưng hoạt động để chờ làm thủ tục giải thể và 40.820 doanh nghiệp đã chính thức hoàn tất thủ tục giải thể. Tính bình quân, mỗi tháng có khoảng 19.700 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Đáng chú ý hơn nữa là diễn biến riêng trong tháng 8. Cả nước chỉ có gần 12.200 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 40,5% so với cùng kỳ năm trước, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng tới 151,2%. Con số này cho thấy sức ép đè nặng lên khu vực doanh nghiệp không phải là chuyện có thể dễ dàng gạt qua một bên bằng vài con số tăng trưởng tổng thể.
Dĩ nhiên, không thể chỉ dựa và o số doanh nghiệp giải thể mà kết luận nền kinh tế Việt Nam đang suy thoái. Cục Thống kê, Bộ Tài chánh Việt Nam lại dẫn số liệu, trong 8 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,9%, tổng kim ngạch xuất nhập cảng đạt khoảng 770,14 tỷ Mỹ kim, tăng 28,7%; tổng vốn FDI đăng ký đạt 40,63 tỷ Mỹ kim, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Những con số này cho thấy nền kinh tế vẫn có những khu vực đang tăng trưởng mạnh.
Nhưng chính sự tương phản ấy mới là điều đáng suy nghĩ. Một bên là những con số GDP, sản xuất, xuất cảng và FDI tăng mạnh; bên kia là hàng chục ngàn doanh nghiệp đóng cửa, hàng trăm ngàn doanh nghiệp phải rút lui, tạm ngưng hoặc chờ giải thể. Nếu nền kinh tế thật sự đang tạo ra một môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi, tại sao số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể lại tăng tới 125,5%?
Không thể đổ tất cả nguyên nhân cho cái gọi là “sự thanh lọc thị trường”. Thanh lọc là một phần bình thường của nền kinh tế thị trường, nhưng khi số doanh nghiệp giải thể tăng hơn gấp đôi chỉ trong một năm, giới hữu trách cần phải nghiêm chỉnh nhìn vào những khoản phí tổn và rào cản đang đè nặng lên giới kinh doanh: thủ tục hành chánh, thuế khóa, chi phí vốn, mặt bằng, nhân công, sức mua và mức độ ổn định của chính sách.
Một nền kinh tế muốn phát triển không thể chỉ chăm chăm nhìn vào số doanh nghiệp mới được ghi danh là bao nhiêu. Điều đáng kể hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp sống được sau một năm, ba năm, năm năm; có bao nhiêu doanh nghiệp đủ sức mở rộng sản xuất, mướn thêm nhân công và tạo ra giá trị thật sự.
Bởi một doanh nghiệp được thành lập trên giấy tờ chẳng qua chỉ là một con số. Một doanh nghiệp tồn tại được, trả lương đều đặn cho người lao động, đóng thuế và đủ sức cạnh tranh trên thương trường mới chính là thước đo sức khỏe thật sự của nền kinh tế.
Vì vậy, trước những bản báo cáo với hàng loạt con số tăng trưởng đầy lạc quan, người dân có quyền đặt ra một câu hỏi hết sức thực tế: nếu nền kinh tế đang ngày càng khởi sắc, tại sao ngày càng có nhiều người làm ăn, buôn bán lại cảm thấy khó thở?
Một nền kinh tế khỏe mạnh không nên chỉ được đo bằng những con số đẹp đẽ trong các bản báo cáo. Sức khỏe ấy phải được cảm nhận từ những cửa tiệm còn mở cửa, những nhà máy còn hoạt động, những doanh nghiệp còn mướn người và người lao động còn có một khoản lợi tức đủ để sống.
NGƯỜI QUAN SÁT



