Đến năm 2045, Việt Nam sẽ có ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế – đó là mục tiêu đầy tham vọng vừa được ông Nguyễn Thanh Nghị nêu ra. Thế nhưng, giữa lúc những lời hứa về một tương lai “hóa rồng” cứ liên tiếp được đưa ra, người dân có quyền đặt câu hỏi: đến bao giờ những mục tiêu xa vời ấy mới thật sự trở thành hiện thực?…
Sáng ngày 3 tháng 9 năm 2026, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị do Bộ Chính trị và Ban Bí thư tổ chức ở Hà Nội (Việt Nam), ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đã trình bày những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 27 về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.
Theo lời ông Nguyễn Thanh Nghị, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là những đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Trong đó, hai cực tăng trưởng lớn nhứt được xác định là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Sài Gòn.
Không chỉ có chuyện xây dựng những đô thị quốc tế, bức tranh mà ông Nghị trình bày còn bao gồm hàng loạt mục tiêu rất lớn: các vùng sẽ vận hành theo phương thức kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; hạ tầng phải đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn và có khả năng chống chịu cao; khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ trở thành động lực chính của tăng trưởng. Nghị quyết cũng đề ra 22 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 cùng 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm tổ chức lại không gian phát triển quốc gia.
Xét về mặt định hướng, những mục tiêu này nghe quả thật rất hấp dẫn. Một quốc gia muốn vươn lên thì dĩ nhiên phải có những thành phố đủ sức cạnh tranh với khu vực và thế giới. Hà Nội, Sài Gòn cùng một số đô thị lớn hoàn toàn có tiềm năng trở thành những trung tâm kinh tế, tài chánh, kỹ thuật và dịch vụ có tầm vóc quốc tế.
Nhưng vấn đề lại nằm ở hai chữ “2045”. Từ nay tới năm 2045 còn gần hai thập niên, trong khi những khẩu hiệu về phát triển dài hạn thì từ trước tới nay vốn chẳng thiếu. Điều người dân cần nhìn thấy không phải là những bức tranh tương lai mỗi ngày một đẹp hơn trên giấy tờ, mà là khả năng thực hiện ngay trong đời sống hôm nay. Một đô thị muốn được xem là có tầm vóc quốc tế thì đâu thể chỉ dựa vào những khu nhà chọc trời, những đại dự án hay những con đường trị giá hàng chục tỷ đồng. Một đô thị đúng nghĩa phải có năng suất lao động cao, thể chế minh bạch, hệ thống giao thông hữu hiệu, môi trường sống tốt, dịch vụ công có phẩm chất, nguồn nhân lực đủ sức cạnh tranh và, trên hết, phải có một môi trường kinh doanh đủ hấp dẫn để các doanh nghiệp quốc tế tự nguyện tìm tới.
Đáng chú ý, đây cũng không phải lần đầu ông Nguyễn Thanh Nghị đưa ra những mục tiêu rất tham vọng cho năm 2045. Ngày 7 tháng 2 năm 2026, khi nói về mục tiêu tăng trưởng GDP, ông Nghị cho biết Đại hội đã xác định tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn 2026–2030 từ 10% trở lên. Trong khi đó, chính ông cũng thừa nhận rằng trong suốt 40 năm đổi mới, Việt Nam chưa từng có giai đoạn nào đạt tốc độ tăng trưởng từ 10% trở lên. Ông gọi đây là một yêu cầu rất cao nhằm đưa Việt Nam tới mục tiêu trở thành một nước phát triển, có mức lợi tức cao vào năm 2045.
Đến cuối tháng 7 năm 2026, ông Nghị lại tiếp tục trình bày một hệ thống mục tiêu lớn khác, với những cột mốc phát triển cho các năm 2030, 2035, 2045 và thậm chí còn định hướng tầm nhìn tới năm 2130.
Nhìn vào cả chuỗi những tuyên bố này, người dân Việt Nam hoàn toàn có quyền đặt ra một câu hỏi rất đơn giản: mục tiêu càng lớn thì cơ chế kiểm chứng càng phải rõ ràng và cụ thể. Hiện nay có bao nhiêu đô thị ở quốc gia này đã đạt được những tiêu chuẩn nào của một đô thị quốc tế? Đến năm 2030 phải đạt được tới đâu? Năm 2035 phải có những kết quả cụ thể nào? Nếu không đạt thì ai sẽ chịu trách nhiệm? Tiền ở đâu ra? Và điều quan trọng nhứt là phẩm chất cuộc sống của người dân sẽ được cải thiện ra sao?
Nếu chỉ nghe những con số như “GDP trên 10%”, “nước phát triển, lợi tức cao”, “5 đô thị tầm cỡ quốc tế”, “kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu” thì tương lai Việt Nam quả thật nghe rất rực rỡ. Nhưng càng đưa ra nhiều mục tiêu hoành tráng, người dân lại càng có lý do để đòi hỏi những con số của hiện tại phải thuyết phục hơn.
Nói cho cùng, vấn đề không phải là Việt Nam có nên dám mơ lớn hay không. Một quốc gia nào cũng cần có một giấc mơ lớn. Cái đáng nói là làm cách nào biến giấc mơ ấy thành một kế hoạch có tiền, có người thực hiện, có thời hạn rõ ràng, có người chịu trách nhiệm và có cơ chế để dân chúng giám sát.
Bằng không, những mục tiêu kéo dài tới năm 2045 rất dễ biến thành một kiểu “tương lai lúc nào cũng đẹp hơn hiện tại”: hôm nay chưa làm được thì hẹn tới năm 2030, năm 2035; tới lúc vẫn chưa đạt thì lại tiếp tục hướng tới năm 2045. Trong khi đó, người dân ngay trong hiện tại vẫn phải tự mình đối diện với những khó khăn rất cụ thể của cuộc sống hằng ngày.
NGƯỜI QUAN SÁT


