Friday, February 13, 2026

PHIẾM LUẬN VỀ BÍNH NGỌ VÀ NGỰA

Gia Cát Mỗ

PHẦN I  TẠI SAO ÂM LỊCH 2026 LÀ BÍNH NGỌ

a) THIÊN CAN – mười ký hiệu

    Giáp
    Ất
    Bính
    Đinh
    Mậu
    Kỷ
    Canh
    Tân
    Nhâm
    Quý

b) THẬP NHỊ CHI – mười hai con giáp

    Tý
    Sửu
    Dần
    Mão (Mẹo)
    Thìn
    Tỵ
    Ngọ
    Mùi
    Thân
    Dậu
    Tuất
    Hợi

c) THIÊN CAN cùng THẬP NHỊ CHI ghép chung lại thành CAN CHI.

Tỷ như âm lịch năm rồi – 2025 – là ẤT TỴ thì năm nay – 2026 – là BÍNH NGỌ và cứ thế những năm tới nữa sẽ tiếp tục là ĐINH MÙI,

MẬU THÂN, KỶ DẬU, CANH TUẤT, TÂN HỢI, NHÂM TÝ, QUÝ SỬU, rồi lại GIÁP DẦN, ẤT MÃO ….

Thế nên, nếu để ý ta sẽ thấy cứ 60 năm là chu kỳ Can Chi lập lại như MẬU THÂN năm 1968 thì MẬU THÂN của 60 năm sau sẽ là 2028 làm vậy.

GCM xin phép miễn bàn về ngũ mạng như Kim, Mộc,Thủy, Hỏa, Thổ vì đây thuộc phạm trù  tử vi, tướng số hay vận mệnh; tuyệt nhiên ngoài khả năng và hiểu biết của người viết.

PHẦN II   NÓI CHUYỆN NGỰA

a) NGỰA TRONG VĂN CHƯƠNG Việt Nam

Nói đến ngựa có mấy ai trong quần lão (từ ngữ GCM ưa xài thay cho danh từ bô lão viết tắt là BL nghe ghê lắm*) quên bài “Ngựa” trong

Lục Súc Tranh Công như sau:

      Ngựa nghe nói, tím gan, nóng phổi,
      Liền nhảy ra hầm hí vang tai :
      “Ớ ! này, này, tao bảo chúng bay,
      Ðố mặt ai dài bằng mặt ngựa ?

      Tuy rằng thú, cũng hai giống thú,
      Thú như tao ai dám phen lê (1)
      Tao đã từng, đi quán, về quê,
      Ðã ghe (2) trận đánh nam, dẹp bắc.

      Mỏi gối nưng phò xã tắc,
      Mòn lưng cúi đội gươm đao
      Ngày ngày chầu chực sân trào (3)
      Bữa bữa dựa kề loan giá,

      Ông Cao Tổ (4) năm năm thượng mã,
      Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia,
      Ông Quan Công sáu ải thoát qua,
      Vì cậy có Thanh Long, Xích thố (5)

      Ðã nhiều thủa ngăn thành, thủ phủ
      Lại ghe phen đột pháo, xông tên

      Ðàng xa xôi ngàn dặm quan san
      Ngựa phi độ một giờ liền thấu.

      Các chú đặng ăn no, nằm ngủ,
      Bởi vì ta cần cán, giữ gìn.
      Khắn khắn lo nhà trị, nước yên,
      Chốn chốn đặng an cư lạc nghiệp.

      Các chú những nằm trong xó bếp,
      Tài các ngươi ở chốn quê mùa.
      Ðừng đừng buông lời nói khật khù
      Bớt bớt thói chê bai nhớn nhác,

      Nếu tao chẳng lo trong việc nước,
      Giặc đến nhà ai để chúng bay ?
      Thật biết một mà chẳng biết mười,
      Chớ lừng lẫy khoe tài, cậy thế”.

1: phân bì 2: nhiều 3: triều 4: Lưu Bang = Hán Cao Tổ khác với Lưu Bị thời Hậu Hán 5: Tên cây đao và con ngựa trong Tam Quốc Chí.

b) NGỰA TÂY/MỸ – CHEVAL/HORSE
Một loài thú có móng, cao, cứng cáp, có tên khoa học là equus caballus. Đầu dài trên gáy có chòm tóc gọi là bờm. Đuôi dài có lông. Bốn cẳng cao nên chạy nhanh và thích chạy. Sức ngựa rất dẻo dai, được dùng để đo lường độ mạnh của máy nổ công nghiệp gọi là Mã Lực. 

Ngựa được các bộ lạc vùng Trung Á xử dụng từ thời đồ đồng. Ngựa rất đa dụng tuỳ theo giống: lớn nhất là giống English Shire cao độ 1.8 mét. Độ cao của ngựa chỉ đo tới trên bả vai (dĩ nhiên là bả vai của con ngựa) mà thôi. Điển hình giống English Shire là loại ngựa Clydesdale dùng để kéo xe mà chúng ta thường thấy hãng Budweiser quảng cáo sản phẩm bia trong muà Giáng Sinh và Tân Niên hằng năm trên hệ thống truyền hình Mỹ Quốc. Bé nhất là giống Shetland cao độ 1 mét.

Xưa nay trong thời bình cũng như thời chiến, ngựa được dùng để cỡi hay kéo xe. Ngày nay ngựa còn được nuôi để làm cảnh, để gây giống hay đem cá độ trong các trường đua. Ngựa chết thì thịt được xay trộn vào đồ ăn cho chó mèo. Lông bờm và đuôi thường dùng làm dây cọ vĩ cầm. Có lẽ vì chẳng được đãi ngộ xứng đáng lúc sinh tiền cũng như hậu sự nên khi cọ vào dây vĩ cầm, lông ngựa phát ra thanh âm ai oán.

Tục ngữ Tây phương về ngựa:
  – Don’t put the cart before the horse: Chớ làm chuyện tréo cẳng ngổng.
  – Look not a gift horse in the mouth: Đừng chê bai quà tặng (diễn nôm là ai cho con ngựa thì không vạch răng nó ra mà khám).
  – Don’t beat a dead horse: Cây khô tưới nước vẫn khô – Số nghèo đến tết Congo vẫn nghèo.
  – The horse knows his rider and a wife her husband: Chim quyên ăn trái nhãn lồng, cá thia quen chậu vợ chồng quen hơi.
  – Better ride a good horse for a day than an ass all your life: Một ngày dựa mạn thuyền rồng, còn hơn suốt kiếp sống trong thuyền chài.

c) NGỰA TA
Người Mỹ gọi ngựa là Horse. Bên ta kêu Horse là Ngựa tỷ như:
        Đùng đùng ngựa chạy qua truông
        Mãi mê con đĩ luông tuồng bỏ em.

Đàn bà trắc nết thường bị gọi là đĩ. Những người ưa làm đỏm, làm dáng thì mang tiếng là đồ đĩ ngựa. Nhưng theo ông Công Dã Tràng, tác giả cuốn “Lời Cầm Thú” thì những con ngựa thích làm dáng, làm đỏm thì bị bầy ngựa gọi là đồ đĩ người.

Hơn nhiều con giáp trước đây, lúc bờm Mỗ Gia bắt đầu điểm bạc, có lần ôm trong tay đứa cháu gái hơn 5 tuổi, cháu ngước mắt lên thỏ thẻ: 

“Chú à ! sao chú không nhuộm tóc đen như ba con, coi cho trẻ ra vậy ?” “Tại chú đâu muốn đĩ ngựa như ba” Mỗ Gia trả lời.

Con bé hỏi tiếp: “Đĩ ngựa là gì vậy hở chú” ?  Mỗ điếng người biện bạch: “Cái này thiệt khó nói, qua hỏi bố con thì hay hơn”.

Phàm khi vào trường đua người ta thường coi giò cẳng những con ngựa lanh lẹ để cá độ. Tuy nhiên khi con ngựa có dáng lù đù mà chiếm giải thì gọi là ngựa về ngược. Người thua cá ngựa trong mấy dịp này thì đau như bị ngựa đá, một phần thưởng đặc biệt cho kẻ chơi dại đi mó dái ngựa.

Tào lao đến đây khá dài, xin bà con đổi kiểu từ tập đọc sang tập đếm:

      – Một con ngựa đá khéo
      – Hai con ngựa khéo đá
      – Ba con ngựa đá khéo
      – Bốn con ngựa khéo đá
      – Năm con ngựa đá khéo
      – Sáu con ngựa khéo đá
      – Bảy con ngựa đá khéo
      – Tám con ngựa khéo đá
      – Chín con ngựa đá khéo
      – Mười con ngựa khéo đá …
Cố gắng hô to trong khi đếm thiệt nhanh theo ký ức, cam đoan nghe …… rất vui tai.

d) CHUYỆN ÔNG MÃ VIỆN BÊN TÀU
Bàn chuyện ngựa mà đề cập đến me xừ Mã Viện thì e phật lòng hội bảo vệ súc vật không ít. Song le không bàn đến thì lại là điều thiếu sót rất lớn.

Mã Viện (14BC – 49AD) là danh tướng thời Đông Hán, tuổi tuy già nhưng vẫn thường xin vua Quang Võ ra trận đánh Nam dẹp Bắc. Mỗi lần thắng trận trở về, khi họ hàng bà con ra đón rước chào mừng thì Mã Viện nói rằng: “Phàm đại trượng phu phải nên chết giữa trận mạc, lấy da ngựa bọc thây (mã cách khỏa thi), chớ cứ ốm đau nằm xó giường hoặc ngỏm củ tỏi trong chốn nursing homes thì nào có hay gì !”

Riêng Gia Cát Mỗ nghiệm ra cái nhân sinh quan rằng: Xừ Mã Viện họ Mã nên cứ việc lấy da ngựa bọc thây, tìm ngựa mà về theo kiểu ngưu tầm ngưu mã tầm mã; chứ như Gia Cát Mỗ này đã mang họ Gia thì cứ việc đi vào nhà dưỡng lão cho phải ….. gia đạo.

 Lão Mã Viện đồng thời đã theo ngựa vào văn chương, thi phú; điển hình qua Chinh Phụ Ngâm:
      Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
      Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo (1)
      Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử (2)
      Dẹp Man Khê bàn sự Phục Ba (3)
      Áo chàng đỏ tựa ráng pha
      Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
      Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
      Giáp mặt rồi phút bổng chia tay
      Hà Lương (4) chia rẽ đường này
      Bên đường trông bóng cờ bay bùi ngùi ….

1: Chốn trận mạc nguy hiểm – theo điển tích Ban Siêu, danh tướng Hậu Hán từng tuyên bố “không vào hang beo làm sao bắt được beo con” rồi dẫn 36 quân sĩ ban đêm xông vào trại đánh tan quân địch.

2: Vua xứ Lâu Lan giết sứ nhà Hán nên Phó Giới Tử dùng mưu đưa vàng ngọc đến dâng rồi sai tráng sĩ giết vua ấy.

3: Man Khê là tên một bộ lạc mọi phía nam nước Tàu, bị Mã Viện chinh phạt rồi sau Mã Viện được phong làm Phục Ba tướng quân. Trong bài Hòn Vọng Phu có câu: “Bên Man Khê còn trong gió bụi mịt mùng, bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng” là do tích này.

4: Cầu sông – Trong bài thơ Lý Lăng viết cho Tô Vũ có câu “Huề thủ thượng hà lương, du tử mộ hà chi = cầm tay nhau trên cầu sông, khách du tối nay về đâu”. Hà lương chỉ nơi tiễn biệt nhau.

e) CHUYỆN LÃO ÔNG MẤT NGỰA

Ôi ! từ Đông sang Tây, có cuộc biệt ly hay mất mát nào mà chẳng lưu lại chút ít đau buồn như câu ngạn ngữ “partir c’est mourir un peu/ đi là chết trong lòng một ít” diễn tả. Tuy nhiên cuộc đời lắm khi hoạ phúc khôn lường trong chuyện tái ông thất mã – ông lão mất  ngựa:

Lão ông có con ngựa tự nhiên bỏ nhà đi sang nước Hồ mất tiêu. Người làng đến hỏi thăm thì ông bảo ” Biết đâu mất ngựa lại là phúc”.

Chừng mấy tháng sau con ngựa ấy trở về lại dắt theo một con ngựa hay khác. Người trong làng lại đến chúc mừng. Ông lão nói “Được ngựa thế mà biết đâu lại là họa”. Từ dạo được con ngựa hay, đứa con trai ông lão thích quá thường hay cỡi, rồi chẳng may bị té ngựa gãy chân. Dân làng lại đến chia buồn. Ông bảo “Biết đâu đấy lại là phúc”. Quả nhiên ít lâu sau giặc giã nổi lên khắp nơi. Trai tráng phải đi lính mười phần chết chín. Riêng con trai ông lão vì què nên được ở cạnh cha.

 Được ngựa hay cũng đừng nên coi trọng quá như câu chuyện sau:

f) CHUYỆN BÁO ƠN THA TỘI ĂN THỊT NGỰA (theo sử ký Tư Mã Thiên)

Năm thứ 15 đời Lỗ Hi Công, tháng 9, ngày Nhâm Tuất, Tần Mục Công đem quân giao chiến với Tấn Huệ Công tại vùng Hàn Nguyên.

Huệ Công thua to, bỏ hết đồ tế nhuyễn lại cho quân Tần giành nhau hòng thoát thân nhưng chẳng may ngựa vua Tấn bị sa lầy. Tần Mục Công xua quân đuổi theo gấp; nhưng đã không bắt được Huệ Công mà còn bị quân Tấn vây hãm, đột kích làm Mục Công bị thương. Hai tướng Tấn lại kéo binh rượt theo.

Tần Mục Công cả sợ giục ngựa quay trở lui vài dặm bổng một đoàn tráng sĩ hơn 300 người từ phía Tây kéo đến reo ầm lên: “Chớ làm hại ân chủ ta” ! Ngửng đầu lên Mục Công thấy những kẻ này đầu bù tóc rối, chân mang hài cỏ, lưng đeo cung tên. Quân Tấn hoảng sợ phải bỏ vòng vây và Tần Mục Công thoát nạn trở về rồi sau đó phản công và bắt đặng Tấn Huệ Công.

Số là xưa kia Tần Mục Công mất một con ngựa hay. Thổ dân tại chân núi Ki bắt được ngựa ấy bèn xẻ thịt ăn. Khi truy cứu ra cớ sự, quan huyện sở tại toan chiếu theo luật trị tội thì Mục Công bảo rằng: “Phàm bậc quân tử không vì loài vật mà hại sinh mạng con người. Ta nghe thiên hạ nói xơi thịt ngựa quý mà không kèm theo rượu Cognac thì độc lắm”.  Bèn sai đem biếu bọn ấy mấy két Rémy Martin Louis XIII và còn xá tội cho họ.  Về sau, khi hay tin Tần phạt Tấn, cả lũ ba trăm người tình nguyện tòng quân tham chiến. Lúc thấy Mục Công bị vây khốn, họ tranh nhau liều chết để báo ơn tha tội ăn thịt ngựa ngày xưa.

Bắt sống được Tấn Huệ Công, Tần Mục Công truyền cho quốc dân trai giới rồi tuyên bố “Ta sẽ dùng Tấn Huệ Công làm vật tế Trời”. Thiên tử nhà Chu hay tin vội đến van xin: “Nước Tấn với ta cùng họ, nay xin tha cho vua Tấn”. Người chị của Tấn Huệ Công là Tần Mục Công phu nhân nghe tin bèn bận tang phục, đi chân đất, đến năn nỉ chồng mình (cha nội này cả gan thiệt ! dám đem quân hỏi tội rồi bắt thằng em vợ ra tế trời) mà rằng: “Thưa đại vương, em thiếp lỗi lầm. Thiếp không can ngăn được làm phiền đại vương thân chinh dẹp loạn”.

Mục Công trả lời: “Bắt sống Huệ Công là một thành công lớn của ta. Nay thiên tử nhà Chu đã có lời yêu cầu; lại phải làm phu nhân lo lắng như thế này thì cũng quá đủ cho ta rồi”.  Nói xong cùng Tấn Huệ Công ăn thề, tha cho về mà còn đưa Huệ Công vào ngụ tại hotel Hilton năm sao *****  đoạn còn mở pạc ti gọi là tiệc thất lao (mổ 7 bò, 7 lợn, 7 cừu) ăn nhậu tưng bừng hoa lá.

Cũng vì duyên Tần Tấn này mà đời sau dân An Nam ta học tiếng Phú Lãng Sa; có ca dao tán gái như vầy:
       Je veux Tần Tấn giao hoà
       Phượng loan sum họp đôi ta très bon
       Je vois em có má hồng
       Gentille em đã có chồng hay chưa ?

g) CỠI NGỰA BÊN TÀU

Ngồi trên lưng ngựa mà bình định được thiên hạ – cũng theo sử ký Tư Mã Thiên – phải kể đến Hán Cao Tổ Lưu Bang. Cũng nhờ Hàn Tín, Tiêu Hà, Trần Bình, Anh Bố, Bành Việt mà Lưu Bang thắng Sở Bá Vương lên ngôi thiên tử chứ chính Hán Cao Tổ cũng chỉ là một nông dân vô học. Khi mới thành công, những tưởng không còn cần dùng đến bọn họ, ông đã mắng Lục Giả rằng: “Ta đây chỉ ngồi trên lưng ngựa mà thâu đặng thiên hạ thì đâu cần gì phải đọc Thi, Thư” ? Thậm chí có lần lột mũ bọn nho sinh rồi đái vào đấy.

Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng đủ sáng suốt để nhận thấy rằng tuy có thể ngồi trên lưng ngựa mà chiếm thiên hạ; nhưng muốn trị dân thì cũng phải ít ra tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh mà dân Hồng Mao gọi là Public Administration; hoặc từ Harvard, Princeton, Yale v.v… mới đặng.

Thế nên sau đó bèn nghe lời Thúc Tôn Thông, Lục Giả, Lịch Tử Cơ theo phép tắc thời trước mà đặt ra triều nghi. Rồi từ đó triều đình mới có trật tự và tôn nghiêm.

h) CỠI NGỰA BÊN TÂY
Chuyên việc chinh chiến trên lưng ngựa nên các kỵ sĩ Âu Châu thời Trung Cổ trong Thập Tự Quân được gọi là hiệp sĩ. Từ ngữ tinh thần mã thượng (chivalry, chevalerie) cũng do chevalier, cavalier = kỵ sĩ, người cỡi ngựa. Cheval cũng từ gốc Latin caballarius mà ra. Đó là nói chuyện đời xưa. Đến thời Tây đô hộ ít lâu, bên ta bắt đầu có phong trào nhảy đầm còn được VC gọi là múa đôi. Muốn đi nhảy đầm thì ngoài điều kiện “ắt có và đủ” là biết nhảy lại cần phải có đào để ôm eo ếch. Có ai cắc cớ hỏi: Song le các nường muốn đi nhảy thì phải làm gì ?

Xin thưa ngay: trừ phi xấu như Chung Vô Diệm thì thôi chứ dưới ánh đèn mờ ảo của vũ trường, các cô thu hút thiếu khối gì kép như nam châm hút sắt.  Vã lại cha ông ta đã từng dạy rằng: Nam túc vi mã túc – giò đực rựa y chang cẳng ngựa”. Đàn ông khoái nhảy đầm hơn đàn bà là cái cẳng. Cũng vì thiếu partner mà từ đó xứ ta sinh ra một nghề mới: đào nhảy do danh từ thời thượng là Cava hay Cave từ tiếng Cavalière (kỵ nữ).

i) LINH TINH VỀ NGỰA

Dưới nhãn quan con người, nói chung thì loài ngựa có nhiều tính tốt như:

– Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ: Mỗ Gia chỉ xin trích dẫn ca dao tục ngữ Việt mà thôi chứ trong đời tuyệt nhiên chưa hề nuôi ngựa để thấy khi con ngựa nào đổ bệnh thì các con khác có nhịn ăn hay không. Một điều chắc chắn là nếu có con ngựa nào đau thì ông chủ phải mời ngay đốc tưa “Vet” đến khám kẻo lại lôi thôi với hội Bảo Vệ Súc Vật – Society for the Prevention of Cruelty to Animals (SPCA).

– Hồ mã tê bắc phong – Việt điểu sào nam chi: Ngựa Hồ (bắc Trung Hoa) khi nghe gió bấc thổi thì hí lên – Chim Việt chỉ đậu trên cành ngã về hướng Nam. Ngụ ý ai đi xa cũng đều nhớ quê hương. Cụ Phan Bội Châu đã dùng tích này làm biệt hiệu là Phan Sào Nam.

– Chỉ lộc vi mã: Chỉ con nai mà bảo là ngựa. Dùng thế lực áp bức kẻ khác làm việc ngược ngạo theo ý mình. Nhà Tần dưới đời nhị thế (Hồ Hợi, thứ nam Tần Thỉ Hoàng) việc nước rối ren. Ngoài thì tứ phương loạn lạc, trong nước bị Triệu Cao lộng quyền làm bá quan kinh sợ. Ngày ấy Triệu Cao đem con nai vào dâng nhị thế và gọi đó là con ngựa. Nhị thế cả cười bảo “thưà tướng lầm rồi, đấy là con nai chứ nào phải ngựa”. Triệu Cao day lại hỏi các quan “nai hay ngựa” ? Lắm kẻ sợ oai Triệu Cao mà gọi rằng ngựa thì khỏi chết. Còn ai theo vua gọi rằng nai thì sớm muộn gì cũng bị Triệu Cao đem giết.

– Bạch câu quá khích – Ngựa trắng qua cửa sổ. Ngụ ý đời người qua mau.

– Mã đáo công thành – Ước vọng thành công trở về như lời chúc “ngựa anh đi trước võng nàng theo sau”.

– Mã thượng bất tri mã hạ khổ – Kẻ cởi ngựa nào hiểu nổi khổ của dân đi bộ. Người giàu sang quyền quý không hiểu được khó nhọc của đám dân đen.

– Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy – Một lời nói ra xe cát sơ vô không theo kịp.
– Dày công hãn mã – Công khó mồ hôi ngựa. Chỉ những người xả thân phục vụ kẻ khác.
– Ngưu đầu mã diện – Đầu trâu mặt ngựa. Chỉ đồ súc sinh.

– Thân khuyển mã – thân chó ngựa. Làm tôi mọi cho người. Cáo trạng chống tham nhũng số 1 ngày xưa của cha Trần Hữu Thanh (RIP) khởi đầu bằng tuyên cáo “Vua coi bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi coi vua như thù địch”.

– Thượng mã phong – Đàn ông chết, tuy gọi là trúng gió khi đang trên lưng ngựa, nhưng thật ra là trên mình người đàn bà trong lúc giao hoan. Đến đây GCM chợt tò mò: giả tỷ đổi kiểu nằm dưới mà viên tịch thì đâu được gọi là “thượng” !  Song le nếu lúc ấy người nữ đo ván lăn quay ra chết thì gọi là gì nhỉ ?

– Hà thời thạch mã độ giang, thử thời Vĩnh Lại nghêng ngang công hầu – Bao giờ ngựa đá sang sông thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng. Sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về con ngựa đá bên bờ sông làng Vĩnh Lại. Ít lâu sau, khi nước lũ cuốn trôi con ngựa đá qua bên kia bờ thì binh biến xảy ra. Trong lúc bỏ kinh thành chạy trốn, vua Lê qua đấy phải nhờ dân làng Vĩnh Lại giúp đỡ. Dân buộc vua phong chức cho họ như lời sấm ghi.

– Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn. Bất luận làm gì hễ cùng đồng tâm chung sức thì công việc chóng thành.

– Ngựa quen đường cũ. Thói ngựa hay quen lối về nhà theo điển tích xưa có vị vua đi đánh giặc về lạc lối trong rừng. Có kẻ trong đoàn hộ giá khuyên nên thả con ngựa đi trước rồi cứ theo sau. Quả nhiên vua và quân sĩ theo nó về đến nơi. Ông ngoại của Gia Cát Mỗ tên là Chương thời sinh tiền làm đoàn tổng (nên được gọi là ông đoàn Chương) thường thích đến nhà bạn bè uống rượu ngâm thơ. Mỗi lần say khướt ông thường được bạn vực nằm sấp trên lưng con ngựa trắng của ông rồi sai nó thủng thẳng đưa về tận nhà. Chuyện này có thật 100% và từng được dân làng Dương Lộc quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị kiểm chứng & xác nhận.

– Ngựa đá rịn mồ hôi. Sau trận Bạch Đằng khi Hưng Đạo Vương đánh tan quân Mông Cổ vua Trần Nhân Tông thấy móng chân bầy ngựa đá đặt trước tiên lăng đều vấy bùn. Vua tin rằng anh linh tiên đế đã cỡi ngựa đá giúp mình đuổi giặc: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã – sơn hà thiên cổ điện kim âu = xã tắc hai lần nhọc ngựa đá – non sông muôn thuở vững âu vàng.

– Voi dày ngựa xé. Hình phạt ngày xưa thả các tử tội vào chuồng để bầy voi quật ngã rồi lấy chân giẫm lên mình cho chết hoặc cột tay chân họ vào bốn con ngựa kéo cho phân thây bốn hướng.

– Con ngựa thành Troy. Theo thần thoại Hy Lạp, Paris là hoàng tử đẹp trai con vua Priam thành Troy đến viếng Menelaus, vua người Spartan. Lúc về thì Helen, người đàn bà tuyệt sắc và là vợ của Menelaus, phải lòng bỏ xứ đi theo Paris. Menelaus giận dữ mang hàng ngàn chiến thuyền đến vây thành Troy trong 10 năm quyết giành lại Helen. Thành Troy cao và kiên cố nên Menelaus hao binh tổn tướng quá đổi mà vẫn không cách nào phá được. Cuối cùng họ cho làm một con ngựa gỗ khổng lồ rổng ruột; đem đám tinh binh mai phục trong bụng ngựa rồi giả bộ căng buồm rút lui. Quân thành Troy quá mệt mỏi sau cuộc chiến lâu dài, ngỡ dân Spartan đã rút nên đẩy ngựa vào thành ăn mừng. Đến khuya, lúc quân Troy đang say sưa, đám tinh binh Spartan bò ra khỏi bụng ngựa; giết lũ quâ canh, mở cửa thành rước đoàn chiến thuyền quay trở lại. Quân thành Troy thất trận; lớp bị giết,lớp bị bắt làm tù binh.

– Quất ngựa truy phong. Kế thứ 36 mà các chàng “playboy” ưa dùng sau khi con ong đã tỏ đường đi lối về.

j) NGỰA CHẾT (trích sử ký Tư Mã Thiên – bộ Liệt truyện)

Thời Sở Trang Vương (613 – 591BC) vua có con ngựa đẹp và yêu quý nó lắm. Cho nó ở nhà cao (hoa ốc sơn khâu = nhà to, sáng sủa và đẹp) lại cho bận đồ gấm vóc, nằm giường có quây mùng màn và ăn toàn táo khô. Con ngựa béo quá, sinh bệnh rồi chết. Vua bắt quần thần để tang đoạn muốn chôn nó trong quan ngoài quách theo nghi thức an táng của một quan đại phu. Cả triều thần đều chống đối cho việc làm ấy không đúng. Vua bèn ra lệnh: Ai dám can ngăn về đám tang con ngựa sẽ bị tội chết. Có tên Ưu Mạnh, vốn là kép hát người Sở mình cao tám thước, hay biện luận và ưa nói chuyện chọc cười để can gián, thấy thế liền vào cửa điện ngước mắt lên trời khóc lớn theo lối ông Cicéron mà rằng “O tempora ! O mores ! = Ôi thời thế ! Ôi phong hóa !” .

Vua kinh ngạc hỏi tại sao. Ưu Mạnh liền tâu: Ngựa là con vật hoàng thượng yêu quý. Đường đường một đại quốc như Sở đây nào thiếu thứ gì mà lại đem chôn con ngựa theo bậc đại phu thì bạc đãi nó quá ! Chi bằng ta chôn nó theo nghi lễ quân vương. Vua lại hỏi vậy thì phải làm thế nào ? Ưu Mạnh đáp: Thần xin đề nghị dùng ngọc chạm làm nội quan, lại dùng gỗ thị mịn làm ngoại quách, đoạn lấy gỗ hoàng tiện, gỗ phong, gỗ dự chương (toàn các thứ gỗ quý) mà chèn khi hạ huyệt. Lại truyền cho quân sĩ mặc áo giáp khi đào huyệt, đưa các người già yếu ra đắp mồ, bắt sứ giả nước Tề, nước Triệu bồi tế đằng trước; buộc sứ giả nước Hàn, nước Ngụy hộ vệ đằng sau. Xong xuôi cho dựng nhà thái miếu để thờ và làm cỗ thái lao cúng và lại cho hưởng thực ấp cả vạn nóc gia: toàn thể chư hầu nghe tiếng sẽ khiếp sợ vì biết đại vương khinh người mà quý ngựa làm vậy. Vua nói: Ta lầm lỗi đến thế ư ? Giờ phải làm sao ? Ưu Mạnh lại tâu: Xin đại vương chôn nó như con gia súc: vun đất thành lò thay cho quách; lấy vạc làm quan, dùng khương tảo, hương mộc lan khử mùi tanh hôi, đoạn tế bằng gạo nếp rồi mặc cho nó cái hoả bào (áo bằng lửa) và chôn nó trong dạ dày người ta.  

Vua giao việc tống táng ngựa cho viên thái quan (quan trông coi ẩm thực) và ỉm câu chuyện làm ma cho ngựa, không còn muốn để tiếng thiên hạ thị phi.

 Con ngựa nay đã chết ……… thì còn chuyện gì để nói nữa đây ? 

Gia Cát Mỗ

Previous article
Next article
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

MỚI CẬP NHẬT

spot_img