(Nguyễn Ngọc Tri 1901-1961)
ÔNG BỐ TÔI – NGƯỜI CÔNG CHỨC PHONG NHÃ GIỮA MỘT THỜI GIAN KHÓ
Ông bố tôi sinh ra trong thời kỳ Việt Nam còn dưới ách Pháp thuộc, khi đất nước bị chia thành ba kỳ: Bắc, Trung và Nam. Đó là một giai đoạn đầy biến động nhưng cũng là thời điểm giao thoa mạnh mẽ giữa văn hóa Đông – Tây. Chính trong bối cảnh ấy, ông hấp thụ được cả nền giáo dục bản xứ lẫn nếp văn minh Tây phương, trở thành một người đàn ông có phong thái rất riêng – lịch lãm, trí thức và đầy sức hút.
Ông nói tiếng Pháp trôi chảy, viết chữ Tây mềm mại như rót rượu. Ông biết thưởng thức Champagne, phô mai Roquefort, bánh mì Baguette và Croissant buổi sáng. Có khi thấy ông trầm tư bên ly Cognac, ánh mắt xa xăm như đang nghĩ về một thời tuổi trẻ đã đi qua nhiều miền đất nước.
Vẻ ngoài của ông lúc nào cũng chỉn chu: giày đánh xi bóng loáng, quần tây ủi thẳng, áo vest và sơ mi trắng ôm dáng, đầu đội nón phớt, kính râm, tóc chải mượt bằng keo Bandoline, thoang thoảng mùi nước hoa nhẹ. Dáng người ông cao ráo, mảnh khảnh, phong độ với chiếc xe Moto Acclay, Sachs Goebel sau này Vespa như những nhân vật trí thức trong thời tiền chiến. Nghe quen quen có vẽ dáng dấp như một góc rất nhỏ nào đó ở “Tuấn, chàng trai nước Việt” là tác phẩm của nhà văn, nhà báo nổi tiếng Nguyễn Vỹ. Người thân thường nói: “Ông đi đến đâu, người ta quý đến đó.” Không phải vì ông đa tình, mà vì ông có cái duyên của người đàn ông tử tế, biết sống, biết thương, biết trân trọng người khác.
Tôi gọi ông là “ông bố”, bởi khi ông cưới mẹ tôi là người vợ thứ, thứ năm chính thức có giá thú còn ngoài giá thú không biết đến , lúc đó mẹ tôi còn trẻ hơn cả người con gái đầu của ông. Nhưng ông chưa bao giờ phân biệt. Ông xem anh em chúng tôi vừa như con, vừa như cháu; thương yêu, chăm sóc, dạy dỗ bằng tất cả sự bao dung và trách nhiệm. Trong nhà, ông là điểm tựa, là người giữ nề nếp, nhưng cũng là người mang lại tiếng cười và sự ấm áp.
Là một công chức công chánh trong những năm 1920 – thời Việt Nam bắt đầu mở đường sá, cầu cống khắp các tỉnh – ông được điều động đi nhiều nơi: từ Quảng Trị quê nhà, rồi vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, và cuối cùng là Khâm Đức. Ở mỗi nơi ông đi qua, ông để lại dấu ấn của một người làm việc có tâm, những công trình phục vụ dân sinh, và những mối quan hệ nghĩa tình, không oán hờn, không tranh chấp.
Thời Pháp thuộc, nghề công chánh là một trong những ngành quan trọng nhất của bộ máy hành chính. Những người như bố tôi là thế hệ đi trước – vừa có kiến thức Tây học, vừa có tinh thần trách nhiệm của người Việt. Họ đặt những viên đá đầu tiên cho những con đường xuyên tỉnh, những cây cầu nối đôi bờ, những công trình giúp dân đi lại, buôn bán, sinh sống. Đó là thế hệ âm thầm xây dựng đất nước bằng đôi tay và trí tuệ, không ồn ào, không phô trương.
Dù đi đến đâu, ông vẫn giữ phong thái đàng hoàng, chuẩn mực. Ông sống tử tế, làm việc tận tâm, giúp đỡ người khác, tạo công ăn việc làm cho nhiều gia đình. Và cũng chính vì vậy, ông để lại ở mỗi nơi những tình cảm tốt đẹp, những đứa con ngoan, những mối quan hệ bền chặt, không hề có oán trách hay phiền muộn.
Ông là kiểu người đàn ông của một thời đã xa – trượng nghĩa, phong nhã, và đầy nhân bản. Một người mà dù cuộc đời đưa đẩy đến đâu, vẫn giữ được sự đàng hoàng trong từng bước chân, sự ấm áp trong từng lời nói, và sự bao dung trong từng mối quan hệ.
Với tôi, ông không chỉ là bố. Ông là một phần lịch sử, một phần văn hóa, và một phần ký ức đẹp nhất của gia đình tôi.
Dù ông đã đi xa, nhưng hình bóng ông – dáng người cao gầy, nụ cười hiền, phong thái lịch lãm – vẫn còn mãi trong ký ức của chúng con. Những câu chuyện về ông, những kỷ niệm về ông, những giá trị ông để lại sẽ tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ sau, như một phần của gia phả, của truyền thống, của lòng biết ơn.
Cuộc đời của Ba, khi nhìn lại, không chỉ là hành trình của một người đàn ông đi qua nhiều miền đất nước, mà còn là hành trình của một tâm hồn biết sống đẹp giữa những đổi thay của thời cuộc. Ba đã sống trong một giai đoạn mà con người phải học cách đứng vững giữa hai nền văn hóa, phải giữ lấy nhân cách giữa những biến động của lịch sử, và phải chọn cho mình một con đường tử tế giữa muôn nẻo đời.
Nhìn vào Ba, tôi hiểu rằng giá trị của một con người không nằm ở những gì họ sở hữu, mà nằm ở những gì họ để lại trong lòng người khác. Ba không để lại của cải lớn lao, nhưng để lại nhân nghĩa, để lại cách sống, để lại tấm lòng. Những điều ấy, theo thời gian, không phai mờ mà càng trở nên sáng rõ.
Ba dạy chúng tôi rằng: Sống tử tế thì đi đâu cũng có người thương. Sống đàng hoàng thì đi xa mấy cũng không lạc đường. Sống có nghĩa tình thì khi nhắm mắt, lòng người vẫn còn nhớ.
Giờ đây, Ba đã yên nghỉ, nhưng cuộc đời Ba vẫn tiếp tục sống trong từng câu chuyện, từng ký ức, từng nếp nghĩ mà con cháu còn giữ. Mỗi khi chúng tôi đối diện với những lựa chọn khó khăn, hình ảnh Ba — dáng người cao gầy, ánh mắt hiền, phong thái đĩnh đạc — lại hiện lên như một lời nhắc nhở: Hãy sống sao cho xứng đáng với dòng máu mình mang, với những gì cha ông đã trao truyền.
Và có lẽ, đó chính là sự bất tử của một con người: Không phải sống mãi, mà là được nhớ mãi.
Nguyễn ngọc Mùi



