Quốc hội cộng sản Việt Nam chốt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% mỗi năm, kéo theo hàng loạt kỳ vọng lớn về thu nhập và đời sống người dân trong những năm sắp tới…
Sáng ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại kỳ họp của Quốc hội cộng sản Việt Nam, một nghị quyết quan trọng về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2031 đã được thông qua. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân được đặt ở mức từ 10% mỗi năm trở lên – một con số không chỉ cao mà còn chưa từng được duy trì ổn định trong nhiều thập niên phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Theo nội dung nghị quyết được báo chí nhà nước loan tải, mục tiêu tổng quát là phát triển nhanh nhưng phải bền vững, kết hợp tăng trưởng cao với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và cải thiện toàn diện đời sống người dân. Đồng thời, cơ quan lập pháp Việt Nam cũng đặt ra chỉ tiêu đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 Mỹ kim và đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Một điểm đáng chú ý là lần đầu tiên các địa phương được giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể. Nhiều tỉnh, thành được yêu cầu đạt mức tăng hai con số. Những nơi như Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh hay Thanh Hóa được giao mục tiêu từ 11% đến 14%, trong khi Hà Nội và Sài Gòn cũng không nằm ngoài “cuộc đua” với mức khoảng 10% mỗi năm.
Trình bày trước nghị trường, ông Phan Văn Mãi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính, nhấn mạnh đây là mục tiêu thể hiện “khát vọng phát triển mạnh mẽ”, đồng thời yêu cầu phải cải tổ thể chế, đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng nhân lực để biến mục tiêu thành hiện thực. Nghe qua thì đúng kiểu một bản thiết kế phát triển: đầy đủ, tròn trịa và không thiếu những khái niệm thời thượng như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo hay kinh tế xanh.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, từ “khát vọng” đi tới “thực tế” thường là một đoạn đường dài hơn nhiều so với những con số đẹp trên giấy. Trên thực tế, trong hơn bốn mươi năm qua, Việt Nam hiếm khi giữ được mức tăng trưởng tiệm cận hai con số trong thời gian dài. Ngay cả những giai đoạn được xem là phát triển mạnh, tăng trưởng cũng chỉ quanh mức 7 đến 8 phần trăm.
Vì vậy, khi mục tiêu 10% mỗi năm được đưa ra, câu hỏi không còn là có nên đặt cao hay không, mà là làm sao để đạt được. Nếu không có lời giải rõ ràng, mục tiêu này rất dễ trở thành một dạng khẩu hiệu mới: nghe thì hùng hồn, nhưng khó kiểm chứng bằng kết quả cụ thể.
Một chi tiết đáng chú ý khác là nghị quyết yêu cầu “kiên quyết thay thế cán bộ yếu kém, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm”. Điều này phần nào cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở chính sách hay nguồn lực, mà còn nằm ở con người và cách vận hành guồng máy. Tuy nhiên, nhận ra vấn đề là một chuyện, còn giải quyết dứt điểm lại là chuyện khác – nhất là khi những điểm nghẽn này đã tồn tại qua nhiều nhiệm kỳ.

Ở cấp chính sách, nghị quyết cũng mở đường cho phía điều hành chủ động điều chỉnh thuế và lệ phí trong những tình huống khẩn cấp. Nghe thì linh động, nhưng cũng khiến nhiều người nghĩ tới khả năng gánh nặng có thể tiếp tục dồn về phía doanh nghiệp và người dân mỗi khi mục tiêu tăng trưởng gặp trở ngại.
Câu chuyện vì thế không chỉ nằm ở con số GDP tăng bao nhiêu phần trăm, mà còn ở chất lượng của sự tăng trưởng đó. Nếu tăng trưởng dựa vào đầu tư công dàn trải, khai thác tài nguyên hay mở rộng tín dụng thiếu kiểm soát, thì con số 10% dù có đạt được cũng chưa chắc mang lại đời sống tốt hơn như kỳ vọng.
Điều đáng suy nghĩ là trong khi nghị quyết nhấn mạnh việc cải thiện đời sống người dân, thì phần lớn giải pháp lại xoay quanh tăng trưởng kinh tế, hạ tầng và thể chế. Khoảng cách giữa “tăng trưởng” và “phúc lợi” vì vậy vẫn là một dấu hỏi. GDP có thể tăng nhanh, nhưng nếu chi phí sinh hoạt cũng leo thang, thì cảm nhận thực tế của người dân lại là chuyện hoàn toàn khác.
Sau cùng, mục tiêu GDP 10% giống như một lời tuyên bố mạnh mẽ về ý chí phát triển. Nhưng trong kinh tế, ý chí chỉ là điều kiện cần, chưa bao giờ là điều kiện đủ. Nếu không đi kèm với cải cách thực chất, minh bạch và hiệu quả, thì những con số hai chữ số rất dễ chỉ nằm trên báo cáo, hơn là hiện hữu trong đời sống thường ngày của người dân.
NGƯỜI QUAN SÁT


