Khoảng 2,69 triệu hộ và cá nhân kinh doanh tại Việt Nam được giảm 30 phần trăm số thuế lợi tức phải đóng. Chính sách này được kỳ vọng sẽ tạo thêm chút dư địa cho những người buôn bán, làm ăn, nhưng đồng thời cũng đặt ra một câu hỏi đáng chú ý: khoản giảm này có đủ sức giúp họ thật sự nhẹ bớt gánh nặng hay không?…
Ngày 24 tháng 8 năm 2026, một chính sách thuế đáng chú ý chính thức được Quốc hội Việt Nam thông qua: cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30 phần trăm số thuế lợi tức phải đóng trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027. Nghị quyết có hiệu lực ngay từ ngày Quốc hội thông qua, mở ra một khoảng thở về tài chánh cho hàng triệu cơ sở làm ăn nhỏ trên cả nước.
Theo kết quả biểu quyết chiều ngày 24 tháng 8, Quốc hội Việt Nam thông qua nghị quyết với 480 trên 481 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Phiên họp diễn ra dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng.
Điểm đáng chú ý nhứt nằm ở số lượng người được hưởng chính sách lần này. Bộ trưởng Bộ Tài chánh Ngô Văn Tuấn cho biết, với mức doanh thu 10 tỷ đồng, khoảng 2,69 triệu hộ và cá nhân kinh doanh sẽ được hưởng giảm thuế; đồng thời hơn 865.000 doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng cũng nằm trong diện được hưởng chính sách. Tính theo tỷ lệ, khoảng 99,86 phần trăm cá nhân, hộ kinh doanh và hơn 81,11 phần trăm doanh nghiệp sẽ được hưởng chính sách này.
Về thực chất, đây không phải là chuyện giảm 30 phần trăm doanh thu, cũng chẳng phải giảm 30 phần trăm tất cả những thứ thuế mà một hộ kinh doanh phải đóng. Chính sách tập trung vào số thuế lợi tức phải nộp. Đối với cá nhân và hộ kinh doanh có doanh thu một năm không quá 10 tỷ đồng, số thuế lợi tức cá nhân phải đóng trong các kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 được giảm 30 phần trăm. Đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu một năm không quá 10 tỷ đồng, số thuế lợi tức doanh nghiệp phải đóng cũng được giảm 30 phần trăm trong hai năm nói trên.
Chính sách này bắt nguồn từ đề nghị của Chánh phủ Việt Nam trước đó. Trong quá trình trình Quốc hội cứu xét, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn giải thích rằng mức doanh thu 10 tỷ đồng được lựa chọn vì đây là nhóm chiếm một tỷ lệ rất lớn trong khu vực làm ăn nhỏ. Theo cách tính mà ông Tuấn đưa ra, doanh thu 10 tỷ đồng một năm tương đương khoảng 833 triệu đồng một tháng. Nếu giả định tỷ suất lời khoảng 20 phần trăm, số thuế phải đóng có thể vào khoảng 15 đến 17 triệu đồng mỗi tháng; khi giảm 30 phần trăm thì khoản thuế được giảm sẽ tương đương khoảng 4 đến 5 triệu đồng mỗi tháng.
Nhìn từ phương diện kinh tế, đây không phải là một khoản hỗ trợ nhỏ đối với những người đang buôn bán, sản xuất hay cung cấp dịch vụ, nhứt là trong lúc tiền thuê mặt bằng, tiền công nhân, nguyên vật liệu và các khoản phí vận hành ngày càng đè nặng lên việc làm ăn. Một phần tiền thuế được giảm có thể trở thành vốn lưu động, tiền trả lương, tiền nhập hàng hoặc tiền bỏ thêm vào việc làm ăn. Tạp chí Kinh tế – Tài chánh cũng dẫn ý kiến chuyên gia Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho rằng việc giảm thuế có thể tạo thêm nguồn lực cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, nhứt là trong lúc mục tiêu tăng trưởng kinh tế đang được đặt ở mức cao.
Tuy nhiên, chính sách này cũng đặt ra một câu hỏi đáng bàn: mức doanh thu 10 tỷ đồng có tạo ra một “lằn ranh thuế” quá rõ ràng hay không? Đại biểu Nguyễn Duy Thanh, đoàn Cà Mau, từng chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng thì được giảm 30 phần trăm, nhưng khi doanh thu vừa vượt qua mức này thì không còn được hưởng mức giảm nói trên. Đây là vấn đề cần được tính toán kỹ để tránh tình trạng doanh nghiệp có tâm lý cố giữ doanh thu dưới mức quy định chỉ để bảo toàn khoản ưu đãi thuế.
Một điều khác cũng cần nói cho rõ: giảm thuế không có nghĩa là mọi hộ kinh doanh lập tức có thêm 30 phần trăm tiền mặt trong túi. Số tiền thật sự được giữ lại còn tùy thuộc vào số thuế lợi tức mà từng cá nhân, hộ kinh doanh hay doanh nghiệp phải đóng. Người có nghĩa vụ thuế thấp thì khoản được giảm cũng thấp; người phải đóng thuế nhiều hơn thì khoản được giảm sẽ lớn hơn, với điều kiện đáp ứng đầy đủ những quy định liên hệ.
Bởi vậy, điều đáng quan tâm sau quyết định ngày 24 tháng 8 không chỉ là con số 2,69 triệu hộ được hưởng chính sách. Câu hỏi lớn hơn là việc giảm thuế có thật sự đi đôi với chuyện giản dị hóa thủ tục, giảm phí tổn tuân thủ và tạo ra một môi trường làm ăn dễ thở hơn hay không. Bà Nguyễn Thị Cúc cũng lưu ý rằng muốn chính sách phát huy hiệu quả, việc giảm thuế cần phải đi kèm với giản dị hóa thủ tục và giảm phí tổn tuân thủ.
Nói một cách khác, Quốc hội Việt Nam đã bấm nút giảm 30 phần trăm thuế, nhưng người làm ăn vẫn còn phải đối diện với không ít khoản phí tổn khác. Nếu tiền thuế có giảm mà thủ tục vẫn rườm rà, tiền vốn và chi phí đầu vào vẫn cao, chuyện làm ăn vẫn đầy rẫy rủi ro, thì hiệu quả thật sự của chính sách này tất nhiên sẽ bị giới hạn.
Dẫu vậy, trong ngắn hạn, đây vẫn là một tín hiệu đáng mừng đối với khu vực kinh doanh nhỏ. Sau một thời gian dài phải chịu sức ép từ giá cả, phí tổn và những yêu cầu quản lý ngày càng chặt chẽ, 2,69 triệu hộ kinh doanh nay có thêm một phần nguồn lực để tiếp tục duy trì công việc làm ăn. Vấn đề còn lại là số tiền được giữ lại ấy sẽ thật sự trở thành đồng vốn để buôn bán, tạo thêm công việc và mở rộng sản xuất, hay rốt cuộc chỉ vừa đủ để bù vào những khoản phí tổn đang ngày một tăng cao.
NGƯỜI QUAN SÁT



