Ngày 29 tháng 1 năm 2026, tại thung lũng hoa vàng nơi đất khách, Giáo sư Nguyễn Cao Can đã nhẹ nhàng xả bỏ báo thân, như áng mây thu tan vào cõi tịch. Tin ấy đến với tôi như một tiếng chuông trầm buốt, ngân dài giữa cõi lòng, khiến bao nhiêu kỷ niệm cũ bỗng trỗi dậy, vừa gần gũi, vừa xa xăm, vừa ấm áp, vừa đau đáu không nguôi.
Tôi có nhiều người bạn là học trò của Thầy, nên từ lâu vẫn kính cẩn gọi Người là Thầy, dẫu không trực tiếp thọ giáo nơi giảng đường. Nhưng cơ duyên kỳ lạ của đời người lại đưa tôi đến gần Thầy bằng một con đường khác, con đường của hoạn nạn, của lao tù, và sau này là con đường của nghĩa tình, của đạo pháp giữa chốn tha hương.
Tôi là Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng. Cơ duyên gặp Thầy bắt đầu từ trại cải tạo Kim Sơn, Bình Định, vào những năm sau biến động 1975. Thuở ấy, tôi chỉ là một học sinh còn non tuổi, từ Đà Lạt về Quảng Ngãi thăm nhà. Một buổi sáng vô tình, đứng trước trường Trần Quốc Tuấn, chúng tôi lượm những tờ truyền đơn chống Cộng bay tung tóe giữa đường Quang Trung, những tờ giấy định mệnh đã đưa cả nhóm vào vòng lao lý. Từ nhà giam tỉnh Quảng Ngãi, chuyển đến Quy Nhơn, rồi lên miền rừng núi Kim Sơn khổ sai, cuộc đời tuổi trẻ bỗng chốc chìm trong khói bụi đoạn trường.
Chính nơi ấy, khoảng năm 1977, tôi gặp Thầy. Người khi ấy cũng là một tù nhân, nhưng dáng vẻ thanh nhã, ốm và cao cao với ánh mắt trầm tĩnh, và phong thái ung dung khiến tôi nhận ra ngay một con người khác thường. Thầy được giao nhiệm vụ vào rừng hái thuốc nam chữa bệnh cho trại viên, những căn bệnh kiết lỵ, sốt rét rừng hoành hành trong cảnh thiếu thốn cùng cực. Nhưng trong cái khắc nghiệt ấy, Thầy không chỉ mang về thuốc, mà còn lặng lẽ hái thêm rau rừng, lá giang, rau sam, thài lài… để nấu thành nồi canh đạm bạc chia sẻ với anh em.
Những bát canh rừng loãng ấy, trong cơn đói khát, lại mang hương vị của tình người. Tôi, kẻ hậu sinh, thỉnh thoảng được hưởng chút ít, mà suốt đời không quên. Trong cảnh địa ngục trần gian, Thầy vẫn giữ được lòng từ, giữ được nhân cách, giữ được cái đạo làm người, điều ấy đối với tôi, còn quý hơn muôn ngàn lời dạy.
Trước khi vào tù, Thầy là một trí thức ưu tú, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, từng giảng dạy tại Nữ Trung học Quảng Ngãi. Thầy từng có chí dấn thân vào chính trường, nhưng rồi chọn con đường giáo dục và phụng sự. Là một Phật tử chân chính, Thầy cùng các bậc trí thức như Giáo sư Nguyễn Liệu, Hòa thượng Quang Lý… sáng lập trường Quảng Ngãi Nghĩa Thục, mở cửa cho bao học sinh nghèo hiếu học.
Ra khỏi lao tù sau mười năm khổ ải, cuộc đời Thầy vẫn tiếp tục gian truân. Từ Sài Gòn đến đất Mỹ đầu thập niên 90, Thầy lại bắt đầu từ con số không. Nhưng kỳ lạ thay, nơi xứ người, chúng tôi lại có dịp hội ngộ, trong một lần cứu trợ người Vô Gia Cư tại công viên Saint James, San Jose. Từ đó, tình thầy trò không chính thức, nhưng thâm sâu như ruột thịt, lại được nối dài bằng bao năm tháng cùng nhau làm việc thiện, phụng sự cộng đồng.
Chúng tôi cùng tham gia các công tác cứu trợ không biết mệt: từ lũ lụt miền Trung, bão Katrina, sóng thần, đến cháy rừng… nơi nào có khổ đau, nơi ấy có bước chân của Thầy. Trong sinh hoạt Phật sự Bắc California, Thầy luôn là người âm thầm đóng góp, không phô trương, không cầu danh.
Thầy Can được nhóm anh em cư sĩ bầu vào chức vụ Chủ Tịch Liên Hội Cư Sĩ Phật Tử tại bắc California từ năm 2011, cư sĩ Tâm Nguyên Ái và Nguyên Vinh Nguyễn Ngọc Mùi là phó chủ tịch và tôi là Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng làm Tổng thư ký điều hành dưới ban cố vấn có các Cư sĩ Thiện Tài Tony Đinh, Tâm Phương Nguyễn Xuân Nam, Như Trinh Truman Nhu, Luật Sư Nguyễn Cao Thăng, Tâm Nhân Nguyễn Thị Cúc, Nguyên Toàn Trần Việt Long, Thiện Quả Đào Văn Bình và rất nhiều vị thiện hữu trí thức cao niên v.v… đã làm nhiều công tác Phật Sự. Trong Liên Hội Cư Sĩ Phật Tử Bắc California, nơi chúng tôi cùng gắn bó và Thầy là một tấm gương sáng của người cư sĩ chân chính. Những công tác tu học, khuyến tấn, hộ trì Tam Bảo, hoằng pháp, từ thiện xã hội… đều có dấu ấn của Thầy. Từ việc tổ chức đạo tràng tụng kinh, thiền tọa, đến việc phát hành kinh sách, giúp đỡ người nghèo, hướng dẫn thế hệ trẻ, tất cả đều được Thầy thực hành một cách lặng lẽ, bền bỉ, không mỏi.
Không chỉ vậy, Thầy còn là hội viên của Hội Ái Hữu Quảng Ngãi Bắc California, một mái nhà tinh thần của người đồng hương. Thầy góp phần gìn giữ văn hóa, kết nối đồng hương, và hướng về quê nhà bằng những công tác thiết thực: cứu trợ, học bổng, tương tế. Ở Thầy, đạo và đời không hai; Phật pháp và quê hương hòa làm một.
Riêng với tôi, những kỷ niệm đời thường lại càng sâu sắc. Những buổi chiều Thầy ngồi tại nhà hàng chay Di Lặc, uống trà chờ tôi đi dạy từ trường Đại học East Bay trở về. Hơn một giờ đồng hồ lái xe, ba bình trà nhâm nhi đã cạn, mà Thầy vẫn an nhiên, không một lời than phiền. Những lần tôi đến thăm Thầy tại Morgan Hill khi bệnh duyên khởi phát, rồi sau đó tại San Jose, nơi Thầy nương tựa con cháu, hình ảnh Thầy vẫn hiền hòa, điềm đạm, khiến lòng tôi càng thêm kính phục.
Và rồi, vô thường đã đến. Thầy, pháp danh Tâm Núi, đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đã xả bỏ thân này trong sự an nhiên của một đời tu tập. Sự ra đi của Thầy không chỉ là mất mát của gia đình, mà còn là mất mát lớn lao của cộng đồng, của bằng hữu, và của những người như tôi, những kẻ may mắn được gặp, được gần, được học nơi Thầy không qua lời giảng, mà qua chính cuộc đời của Người.
Giờ đây, nhớ lại Thầy, tôi không chỉ thấy một giáo sư, một trí thức, một cư sĩ Phật tử, mà thấy một con người trọn vẹn: có trí, có tâm, có nghĩa, có tình. Một đời đi qua biến động, khổ đau, nhưng không hề đánh mất ánh sáng nội tâm. Thầy đã sống một đời đáng sống. Và cũng đã ra đi một cách đáng kính.
Tôi viết những dòng này trong niềm thương nhớ khôn nguôi, như thắp một nén tâm hương tiễn biệt. Nguyện cầu hương linh Thầy nhẹ bước tiêu diêu nơi cõi tịnh, hoa sen nâng gót, ánh từ quang tiếp dẫn. Và trong lòng tôi, hình bóng Thầy, người tù năm xưa với nồi canh rau rừng, người cư sĩ năm sau với chén trà an nhiên sẽ còn mãi, như một dấu ấn không phai của tình người giữa cõi vô thường.Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
(Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng kính bút)



