NGUYỄN CHÂU

NĂM BÍNH NGỌ
Trong 12 Ðịa chi của Tử Vi và vòng Hoàng Ðạo (Zodiac) Trung Hoa, NGỌ là Ðịa Chi thứ 7. BÍNH là Can thứ BA trong 10 Thiên can. Vận hành của mỗi một năm đều do sự kết hợp, tương tác giữa Thiên can và Ðịa chi nghĩa là giữa ÐẤT và TRỜI. Tuổi của con người cũng gồm Thiên can và Ðịa chi theo nguyên lý “góp phần cùng trời đất trong việc phân phối, biến đổi và nuôi dưỡng cuộc sinh tồn”(Trung Hoa gọi là “Tham thiên địa tán hóa dục”).
Giờ NGỌ trên đồng hồ phương Tây là khoảng thời gian từ 11 giờ sáng (am) đến 12 giờ 59 (pm). Về tháng thì tháng NGỌ là tháng thứ 5 Âm Lịch, nhằm vào tháng sáu hoặc bảy của Dương Lịch. Trong một tháng, ngày NGỌ có thể xuất hiện khoảng bốn lần.
Về số mệnh của người, thì tuổi Ngọ song hành với GEMINI của Tây phương (theo Lori Reid- The Complete Book of CHINESE HOROSCOPES – Barnes & Noble, NY).
Về thiên văn, NGỌ là thời điểm Mặt trời ở Thiên đỉnh (Zenith), điểm cao nhất trên Thiên cầu (celestial sphere) đối với người quan sát trên mặt đất vào ban ngày. Dân gian Việt Nam gọi là “đứng bóng” hay “đúng Ngọ”.
Về không gian, phương vị của NGỌ là hướng Chính Nam đối cực với TÍ là hướng Chính Bắc. “Tí – Ngọ” là trục “Bắc-Nam” trên địa bàn.
Về Ngũ Hành, NGỌ thuộc Dương, Hỏa cực thịnh. NGỌ thuộc Thái Dương, xuất hiện ở Tị (tháng thứ tư), cao điểm ở Ngọ (tháng Năm) và suy dần ở Mùi (tháng thứ Sáu).
BÍNH thuộc Dương Thổ tức là Thổ thuần dương ứng sức nóng của lửa, làm cho khí hậu nóng lên.BÍNH NGỌ thủy hợp khắc hỏa, Thủy thái quá thì mưa và hàn khí lan tràn, thời tiết khắc nghiệt.
Nơi con người bệnh hàn phát sinh, Tâm Hỏa thụ tà. Cách chữa bệnh theo Ðông Y là “trục Hàn, bổ Tâm”. Người cảm phải thời khí này sẽ phát bệnh nóng, Tâm phiền hay kinh sợ, bị lạnh, nói nhảm, đau vùng tim. Nếu trở nặng sẽ bị phình bụng,chân phù, thở suyển, mồ hôi trộm, sợ gió.
Trong vũ trụ, Thủy hợp khắc hỏa, thủy thắng thì thổ phục thù, trời u uất, mưa, lũ, sương tuyết khắp nơi, thấp khí làm biến đổi mọi vật. Âm thịnh, Dương suy! Thấp khí lưu hành mạnh, suối chảy nhanh, sông tràn bờ, tưới nhuận đất đai, loài cá tôm sinh nở mạnh. Nếu thấp quá độ, thì Phong sẽ lấn vào, mưa to, gió lớn để đất vỡ ra, loài cá ngược lên đất cạn.
Năm Ngọ: Thiếu âm quân hỏa tư thiên vì Ngọ gốc là nhiệt, mà khí của nó ở phương vị Ngọ là chỗ Âm bắt đầu phát sinh, cho nên “ngọn” là hàn (lạnh) mà lại thuộc Thiếu Âm Quân Hỏa (tức là lửa trung ương).
Năm Giáp Ngọ, hỏa hợp thổ.
VẬN KHÍ NĂM BÍNH NGỌ
Vận khí của Năm thường ảnh hưởng trực tiếp tới các biến cố từ thiên nhiên, trời đất, thiên tai đến các sinh hoạt của con người trên trái đất, như chiến tranh, bất ổn, bệnh tật (các dịch bệnh). Vận Khí có hai phần Chủ Vận và Khách Vận.
Chủ Vận mật thiết với Ngũ Hành: Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ. Trời lấy Ngũ Hành ngự trị Ngũ Vị để sinh ra các Khí Hàn, Thủ, Thấp, Táo, Phong.
Trong con người có Ngũ Tạng: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Ngũ tạng sinh ra Ngũ khí và Ngũ khi biến thành mừng, giận, lo, nghĩ, sợ.
Khách Vân chu lưu trong 10 thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười Thiên Can phối hợp với Ngũ Hành thành 5 Vận.
Năm Bính Ngọ: Thủy thắng cho nên nhiều mưa. Hỏa thua, nên Phong Mộc lấn Thổ gọi là “tiên thiên thái cung”, nghĩa là Thời khí chưa tới mà khí đã đến trước. Thái cung là thổ khí thái quá.
Năm Ngọ hỏa ở trên (tư thiên) nên nhiệt hóa phần trên vũ trụ, cơ thể (đất bị thiếu nhiệt) khiến cho mùa Xuân bị mát lạnh, gió to (thay vì ấm áp, gió êm nhẹ), thiếu mưa (phong vận của năm Tỵ còn rơi rớt lại). Phải qua Xuân Phân mới đến đúng vị trí của hỏa, mộc có thừa nhưng không thể quá mức, táo khí ở dưới, khí thấp không tựu thành được, các loài cầm được yên ổn, sâu bọ sinh ra nhiều vì địa khí thuận.
Như vậy, thời tiết năm Bính Ngọ không mấy thuận lợi cho mùa màng. Bão lụt đe dọa sản xuất nông nghiệp. Mưa tuyết và gió lớn.
VỀ VẬN KHÍ THẾ GIỚI:

Khu vực Trung Ðông, Á Ðông nhiều sôi động và bất ổn dây dưa. Tây Âu được yên ổn, phục hồi kinh tế.
Các lò lửa chiến tranh tuy không bùng cháy nhưng sức nóng âm ỷ làm cho một số cường quốc Âu Mỹ nhức đầu. Trung Cộng vì ham phát triển quân đội để dương oai, nên kinh tế không tăng trưởng như mong muốn. Với chính sách bành trướng trên biển (đường Lưỡi Bò), rồi trên không (Vùng Nhận Diện Phòng Không trên vùng trời biển Hoa Ðông), Trung Cộng chỉ chuốc họa vào thân, bởi vì trước thái độ hung hãn, trịch thượng và tự thị ấy, các quốc gia nhỏ lớn quanh vùng Ðông Á đều đến gần với Mỹ và Tây Âu để liên minh hầu ngăn chặn sự bành trướng thô bạo của Trung Cộng. Trường hợp, nếu Trung Cộng có hành động khiêu khích quân sự, chắc chắn các chiến hạm và mẫu hạm mới ra đời của Trung Cộng sẽ nếm mùi “Kamikaze” (*Phi cơ cảm tử Thần Phong) của Không Quân Nhật, thưởng thức thủy lôi và ngư lôi từ các tàu ngầm do Nga, Mỹ chế tạo.
Việt Nam thì rơi vào thế lưỡng nan của kinh tế và chính trị. Kinh tế bấp bênh bị lệ thuộc xuất cảng, bị Trung Cộng thao túng và phá bĩnh. Chính trị bị lệ thuộc Trung Cộng, các thành phố lớn bị người Trung Cộng xâm nhập, lũng đoạn theo chiến thuật “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang” chiếm đất, sinh dân (thực dân), đồng hóa đời sống kinh tế xã hội của người Việt, nhưng nhà nước Cộng sản Việt Nam không có phản ứng nào. Lò lửa phẫn uất và bất mãn đang âm ỷ trong lòng nhân dân yêu nước, chưa biết sẽ bùng phát lúc nào. Trung Cộng đã gây ra bao nhiêu nhục nhã cho dân Việt, đảng Cộng sản Việt Nam thì quá hèn trước Trung Cộng, nhưng lại tàn ác với dân Việt. Ðã có nhiều đảng viên, trí thức và cựu tướng, tá Quân Ðội Nhân Dân viết thư cảnh cáo chính phủ cộng sản và hô hào:
“Ðồng bào tuốt gươm vùng lên, đã đến ngày trả mối chù chung,
Diệt cộng sản cướp đất ruộng, cướp đời sống dân nghèo,
nào nhà tù,nào trại giam biết bao nhiêu nhục hình.”
Dân Việt Nam cần có một cuộc cách mạng mới để triệt hạ đảng Cộng sản, hầu huy động sức mạnh toàn dân chống Trung Cộng xâm lăng, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.
[*Kamikaze: 1. A Japanese pilot trained in World War II to make a suicidal crash attack, especially upon a ship.
2. An airplane loaded with explosives to be piloted in a suicide attack.] Một phi công Nhật Bản được huấn luyện để lái máy bay chứa đầy chất nổ liều mình đâm thẳng vào chiến hạm của quân địch để tấn công.]
NGƯỜI TUỔI BÍNH NGỌ
Các năm 1966 và 2026 là Bính Ngọ. Mạng THIÊN HÀ THỦY (Nước sông Trời)
Tuổi Ngọ tượng hình là con Ngựa nên rất hăng hái và sinh động trong đời sống. Sự xông pha vào hoàn cảnh được xem là rất mạnh mẽ, vũ bão, không gì ngăn cản được. Người Tuổi Ngọ xuất hiện trong các hội hè sẽ trở thành người hoạt náo, linh hồn của cuộc vui, nhờ vào trí thông minh sắc bén và lối nói chuyện linh hoạt, duyên dáng, cái lấp lánh của Thiên hà Thủy. Nhưng ngay sau đó, rất bất ngờ, Ngựa ngẩng cao đầu, tung vó phi về một cánh đồng cỏ khác nào đó… theo sở thích hoặc vọng tưởng của mình. Sách có câu “ý mã tâm viên”, nghĩa đen là “tư tưởng của ngựa, lòng của vượn”, nghĩa bóng chỉ sự thay đổi nhanh chóng, bất ngờ trong tâm ý (tư tưởng như con ngựa hay chạy nhảy, lòng như vượn hay chuyền từ cây nầy qua cây khác, không biết đâu mà lường trước).
Vì vậy, người tuổi Ngựa, nói chung thường có tính bốc đồng, hành động bột phát, tuy vẫn rất thông minh và thực tế. Từ phù phiếm có thể trở về thực tại trong chớp mắt. Tuổi Ngọ có năng khiếu đề cập đến hai hoặc ba vấn đề trong một lúc, khi nói chuyện.
Cuộc sống của tuổi Ngọ luôn ở trên bước “phi nước đại” (au gallop) và sự hiện hữu ở đời như một “dấu hiệu của thanh lịch, sang trọng và ưu đãi” (sign of Elegance and Favour).
Có thể nói tuổi Ngọ bao gồm tất cả những tính chất sau đây: Sống động, dấn thân, không sợ nguy hiểm, thông minh, tự lập, thiện cảm, vui hòa, tế nhị đồng thời cũng ích kỷ và ảo tưởng,
NGỰA TRONG VĂN HÓA
1. Trong Văn Chương
LỤC SÚC TRANH CÔNG là một tác phẩm viết bằng văn vần, thuộc loại truyện ngụ ngôn, không biết tác giả là ai . Người xưa thường ghi là vô danh hoặc khuyết danh, đúng ra là khuyết danh nghĩa là thiếu tên tác giả chứ không phải là tác giả không có tên, chỉ là giấu tên thôi.
Về hình thức, đây là một truyện được trình bầy theo lối hát tuồng, đối đáp. Văn trong Lục Súc Tranh Công là thơ Song Thất Lục Bát biến thể.
Ðiều đặc biệt là mạch thơ trong Lục Súc Tranh Công rất dung dị, thanh thoát… như lời nói thường ngày…dễ nghe, dễ hiểu và dễ nhớ. Toàn bộ tác phẩm dài 570 câu thơ.
Về Nội Dung
Trong số những tác phẩm văn chương cổ điển Việt Nam, Lục Súc Tranh Công là tác phẩm có giá trị độc đáo nhất.
Tại sao? Giá trị độc đáo là ở chỗ, Lục Súc Tranh Công đã nêu lên được những vấn đề căn bản, thực tế trong xã hội quân chủ và nông nghiệp thời xưa. Là một tác phẩm đặc biệt vì vào thời kỳ này rất hiếm tác giả chú tâm mô tả một cách hiện thực và sinh động những tấn tuồng tranh chấp của con người trong xã hội, vạch trần những mâu thuẫn về quyền hành, về lợi lộc, về những xung đột ngấm ngầm cũng như công khai giữa các tầng lớp xã hội.
Những mâu thuẫn và xung đột này bắt nguồn từ những suy bì “hơn thiệt, thiệt hơn” của lòng người và thói đời, và đã tạo nên cảnh tranh dành, chống phá, thù nghịch và bôi xấu lẫn nhau…
Cuộc tranh công đã xẩy ra tuần tự như sau:
Khởi đầu là Trâu. Trâu đã than thở về những nỗi vất vả, nhọc nhằn của mình để giúp cho nông dân làm ra lương thực, thực phẩm nuôi sống muôn người, nhưng trâu lại bị đối xử rất tệ bạc, không xứng đáng với công lao mà Trâu đã làm. Than thở kể công xong, Trâu quay qua nói xấu Chó, đến lượt Chó kể công, nói xấu Trâu, rồi quay qua công kích Ngựa, làm cho Ngựa phải nhẩy ra đối đáp. Sau đây xin tóm lược cuộc tranh công “Trâu-Chó-Ngựa”.
TRÂU
“Trâu mỏi nhọc, trâu liền than thở:
“Một mình trâu ghê nỗi gian nan
……………………………….
Tắm mưa trải gió chi nài!
Ðạp tuyết, dày sương bao sá!”
Công lao của Trâu thật rất lớn:
-“Có trâu sẵn tằm tơ, lúa má
Không trâu không hoa quả, đậu mè
Lúa cất lên đã có trâu xe
Lúa chất trữ lại để dành trâu đạp
Từ tháng giêng cho đến tháng chạp
Kể xuân hè nhẫn đến thu đông
Việc cầy bừa nông vụ vừa xong
Lại xe gỗ, dầm công liên khói
Bất luận xe rào xe củi
Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che
Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi
Thì đã phú mặc trâu chuyên chở…
Bao quản núi non hiểm trở
Chi nài khe suối dầm dề
Cong lưng chịu việc nặng nề,
Cay đắng những lời dứt lác!
Sau khi kể công và kể ơn, Trâu quay ra chỉ trích, chê bai CHÓ:
Thưa chủ, xin nói tiếp một lời:
“Như loài muông (31), vô tướng vô tài
Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc?
Ăn cho lớn dưỡng vai dưỡng vóc
Giỡn với nhau, vạch cửa vạch sân.
Một ngày ba bữa chực ăn
Thấy đến việc lén mình lét lét
Chưa rét đã phô rằng rét
Xo ro đuôi quít vào trôn…
Vấy bếp người tro trấu chẳng còn
…………………………………………
Chó nghe Trâu chỉ trích đã phản ứng một cách quyết liệt:
CHÓ
Muông nghe nói, giận đau phế phổi
Liền chạy ra sủa mắng vang tai
“Trời đã sinh các hữu kỳ tài
Lớn việc nặng, bé thì việc nhẹ
Công lao và chức vụ của Chó:
-“Vốn như đây gia tài ủy ký,
Mà chủ không tốn kém đồng nào.
Nếu không muông coi trước, giữ sau,
Thì của ấy về tay kẻ trộm.
Trâu biết nói trâu không biết xét,
Suy mình muông công nghiệp đã dày,
Khi sống thì gìn giữ của đời,
Khi thác xuống giữ cầu âm giái;
Sau khi kể một số công lao, chê trâu để trả đũa, rồi quay sang chỉ trích Ngựa…
Dám thưa người: báu gì giống ngựa,
Mà trau tria lều trại nhọc nhằn?
Ăn cho ăn những cháo đậu xanh,
Ở thì ở những tàu lợp ngói,
Bữu bữa dạo chơi tắm gội
Ngày ngày chắn vó hớt mao,
Sắm sửa cho chẳng biết chừng nào
Suy tính lại dư trăm, dư chục,
Sắm lá vả, sắm yên, sắm lạc,
Sắm chơn dưng, hàm thiếc, dây cương,
Dời tiền, dời hậu, bao vàng
Thắng đai dây cương thiếp bạc.
Gẫm giốngấy:
Nết na giớn giác,
Tính khí chàng ràng.
…………………….
Dại không ra dại,
Khôn chẳng nên khôn,
Ngất ngơ như ốc mượn hồn,
Nuôi giống ấy làm chi cho rối.”
NGỰA đáp lại:
Ngựa nghe nói tím gan nổi phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai:
“Ớ này này tao bảo chúng bây,
Ðố mặt ai dài bằng mặt ngựa?
Tuy rằng thú, cũng hai giống thú.
Thú như tao ai dám phen lê!
Tao đã từng đi quán về quê,
Ðã ghe trận đánh Nam, dẹp Bắc
Mỏi gối nâng phò xã tắc,
Mòn lưng cúi đội vương công.
Ngày ngày chầu chực sân rồng,
Bữa bữa dựa kề loan giá.
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp của Lưu gia
Ông Quan Công sáu ải thoát qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích thố.
Ðã nhiều thuở ngăn thành, thủ phủ
Lại ghe phen đốt pháo, xông tên
Ðàng xa xôi ngàn dặm quan sơn
Ngựa phi độ một giờ liền thấu.
Các thú đặng ăn no nằm ngủ,
Bởi vì ta cần cán giữ gìn,
Khắn khắn lo nhà trị, nước yên,
Chốn chốn đặng nông bô lạc nghiệp.
Các thú những nằm trong xó bếp,
Tài các ngươi ở chốn quê mùa,
Ðừng đừng buông lời nói khật khù,
Bớt bớt thói chê bai giớn giác.
Nếu tao chẳng lo trông việc nước,
Giặc đến nhà ai để chúng bay?
Thật biết một mà chẳng biết mười,
Chớ lừng lẫy, cậy tài cậy thế.”
…………………………………..
Qua đoạn thơ trên tác giả đã cho thấy tính khí của Ngựa. Ngựa cũng đã không chịu thua sút một phân. Ngựa đã tỏ ra rất cao ngạo, ta đây. Ngựa đã khoe khoang nhiều nhất về những công lao vĩ đại như phò vua, giúp nước, lo cho nhà trị nước yên… giọng điệu kiêu căng trịch thượng, xưng hô mày tao, chúng bay… làm như ngựa là kẻ lãnh đạo oai hùng nhất không ai so sánh được:
“Các thú đặng ăn no nằm ngủ
Bởi vì ta cần cán, giữ gìn
Khắn khắn lo nhà trị nước yên
Chốn chốn đặng nông bô, lạc nghiệp…
-“Nếu tao chẳng lo trong việc nước
Giặc đến nhà, ai để chúng bay…”
Ðúng là loài sẵn mang một huyết thống kể công và tự cho mình là đỉnh cao, là ưu việt… không coi ai ra gì cả.
NGỰA TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
“Lúc mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà chàng gác hai bên
Thiếp sợ bí thiếp liền gảnh sĩ
Chàng lừa thiếp đang khi bất ý
Ðem tốt đầu dú dí vô cung
Thiếp đang mắc nước xe lồng
Nước pháo đã đùng đùng ra chiếu” (Ðánh Cờ Người)
TRONG TRUYỆN KIỀU:
– “Ðoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh “ (869-870)
– “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” (c.48)
– “Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh” (c.72)
– “Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời” (139-140)
– “Rằng ta có ngựa truy phong
Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi” (Kiều/1107-1108)
– “Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn”(1118)
– “Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai”(707-708)
– “Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan sanà”(1519-1520)
TRONG “CHINH PHỤ NGÂM”
– “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”
– “Tiếng nhạc ngựa lần theo tiếng trống
Giáp mặt rồi,phút bỗng chia tayà”
– “Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền”
– “Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon”
– “Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành”
NGỰA TRONG SẤM TRẠNG TRÌNH
Sấm Trạng Trình đã ghi về những năm Ngựạ như sau:
1-“Long vĩ, xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khởi đao binh
Mã đề, dương cước anh hùng tận
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình”
(Ðuôi Rồng, đầu Rắn nổ chiến tranh
Khắp nơi các nước khổ đao binh
Vó Ngựa, chân Dê anh hùng hết
Thân, Dậu trở về mới thái bình)
Ý nói: Cuối năm Thìn, đầu năm Tỵ chiến tranh bùng nổ làm cho khắp các nước khổ vì nạn súng gươm, quân binh. Ðến đầu năm Ngọ và năm Mùi thì các cuộc chiến tranh đều đã tận cùng tàn phá rồi vào năm Thân năm Dậu mới có thái bình. Nhiều luận đoán thấy rằng những câu này ứng vào Thế chiến thứ II (1939-1944) Nhưng xem ra thì nó cũng ứng vào tình hình chiến tranh của thế giới ngày nay: Nga đem quân đánh chiếm Ukraine từ năm Dần qua năm Mão đến năm Thìn, Tỵ…Chiến tranh Trung Đông càng ngày càng khốc liệt. Tái Á Đông, Ấn Độ-Pakistan-rồi mới đây Campuchia-Thái Lan vân vân…
2- “Một ngựa một yên ai sùng bái?
Nhắn con nhà Vĩnh bảo cho hay
Tiền ma bạc quỷ trao tay
Ðồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua”
Ý của mấy câu này rất khó luận vì ít tìm thấy sự kiện lịch sử tương tự. Có người cho rằng những câu này chỉ sự việc Hoàng Gia Mô (cháu nội Việt gian Hoàng Cao Khải) đi làm Tri huyện Vĩnh Bảo bị cách mạng cần vương chống Pháp giết. Có người thì luận rằng chữ “Vĩnh” ám chỉ các Vua nhà Nguyễn như Duy Tân (Vĩnh San), Bảo Ðại (Vĩnh Thụy) là thời đại dùng tiền giấy (không còn dùng tiền kim loại). Tuy nhiên có luận đoán cho rằng “Tiền ma, bạc quỷ trao tay” chỉ những tài sản phi nghĩa do hối lộ, cướp bóc của dân, của nước mà có. Câu thứ tư ý nói sự loạn lạc nổi lên ở các vùng Ðồ Lương, Hốc Môn, Nghệ An và Thái Nguyên.
3- “Rồng nằm bể cạn dễ ai hay
Rắn mới hai đầu khó chịu thay
Ngựa đã gác yên không người cưỡi
Dê không ăn lộc ngảnh về Tây”
“Rồng nằm bể cạn” tức là ẩn long ít người biết. Nhưng ở trong “bể cạn” thì chẳng thi thố được sức mạnh. Trong lúc “Rắn mới hai đầu” rất khó chịu, bởi vì mỗi đầu một hướng khó tiến tới. Phải chăng con rắn mới này là con rắn “Kinh tế Thị Trường theo Ðịnh hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam? Cái quái thai này đã làm cho một nước xã hội chủ nghĩa hóa thành Tư Bản Ðỏ, tất cả tài sản quốc gia tóm gọn vào 22 Ðại Công Ty thuộc quyền Thủ Tướng Dũng và các tập đoàn lợi ích chân tay của Tập đoàn lãnh đạo. Trong lúc người dân cơ cực, thiếu nhà ở thì các “biệt phủ”, biệt điện”, các lâu đài hàng trăm Tỷ đồng VN mọc lên sừng sững…mà chính quyền không hề hay biết! Thêm vào đó là hàng chục đô thị mói được dựng lên từ Nam chí Bắc với hàng triệu căn nhà, biệt thự sang trọng không có người ở… trở thành những khu đô thị ma ngay giữa Thủ đô Hà Nội, TPHCM và các thành phố khác. Đúng là”Ngựa đã gác yên không người cưỡi!”
“Dê không ăn lộc, ngảnh về Tây”. Ðến năm Mùi, những người không vì lợi ích cá nhân sẽ hướng theo đường lối Tây phương mà canh tân đất nước.
4- “Hùm gầm khắp nẻo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời
Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng.”
Bốn câu này có nhiều sự kiện lịch sử tương tự để luận đoán: Ðại Lãng thiền sư luận rằng: “Năm Canh Dần (2010) mấy con cọp kinh tế Á Châu (Nhật, Ðài Loan, Singapor, Ðại Hàn) gầm gừ khắp nơi vì nạn suy thoái Tài chánh làm cho đảo điên, qua năm Tân Mão (2011) suy thoái kinh tế lan rộng, các cuộc đàn áp tôn giáo, đàn áp biểu tình chống trung cộng ở Việt Nam, các cuộc bắt bớ thanh niên yêu nước, kết án tù khiến cho dư luận thế giới ghê rợn, cùng với một số cuộc nổi dậy chống cướp đất trong nước làm cho bọn quỷ đỏ (Cộng sản) bối rối lo âu tơi bời. Trong năm Nhâm Thìn (2012) các cuộc đấu tranh cho Tự Do, nhân quyền của người Việt hải ngoại được Quốc Tế và Quốc Hội cùng nhân dân Mỹ ủng hộ mạnh mẽ, một cuộc Diễn Hành Quốc Tế tại Liên Hiệp Quốc cờ vàng ba sọc đỏ bay rực rỡ một góc trời Hoa Kỳ. Rồi năm Quý Tỵ,(2013) cuộc đấu tranh cho Tự Do Nhân Quyền tại Việt Nam được đẩy mạnh, dân mất niềm tin vào đảng cộng sản, thù hận công an, đánh và giết công an, Thiên Chúa Giáo biểu tình chống đàn áo tôn giáo tại Vinh, Mỹ Yên, Nghệ An và trên toàn quốc, một số cựu đảng viên công khai cảnh cáo đảng cộng sản Việt Nam về một cuộc cách mạng mới báo hiệu cho sự suy sụp của quỷ Cộng sản tàn ác. Ðến năm Giáp Ngọ (2014), Ngựa sẽ lồng lên, (nhân dân Việt Nam sẽ “tuốt gươm vùng lên” sau “bao năm ròng rên siết lầm than, dưới ách quân tham tàn cộng sản sài langà! Chân ngựa Giáp Ngọ đạp cho quỷ đỏ nhăn răng, nghĩa là chế độ cộng sản cáo chung!?.
5. Sấm truyền:NGỰA ÐÁ QUA SÔNG
“Bao giờ ngựa đá qua sông
Thì dân Vĩnh Lại quận công suốt làng”
Tương truyền rằng: Hai câu sấm trên đây, Trạng Trình ghi vào thân con ngựa đắp bằng đá trên bờ sông làng Vĩnh Lại (quê nhà của Trạng). Số là dân làng nghe nói Trạng Trình là người biết trước được mọi việc sẽ xẩy ra, họ liền yêu cầu ông cho biết tương lai của dân làng Vĩnh Lại ra sao. Trạng Trình không chịu nói rõ viện cớ “thiên cơ bất khả lậu”. Nhiều người bất mãn, Ông liền cho đắp một con ngựa đá trên bờ sông làng Vĩnh Lại với câu sấm trên. Mọi người thấy thật khó xẩy ra chuyện ngựa đá qua sông để cho dân Vĩnh Lại trở thành Quận công cả làng, nhưng họ vẫn chờ đợi sự linh ứng của sấm truyền này.
Quả nhiên, sau một trận lụt lớn, phần bờ có ngựa đá bị lở, nước cuốn bồi sang bờ bên kia kéo luôn cả ngựa đá. Ðiềm đã ứng, dân Vĩnh Lại vui mừng chờ đợi!
Vua Lê Chiêu Thống bị Tây Sơn đánh chạy đi lánh nạn, qua làng Vĩnh Lại được dân chúng phò trợ che chở, chống lại Tây Sơn. Vua mang ấn tín ra phong cho những người cầm đầu dân làng tước Hầu, chức Quận công. Tin này đồn ra ngoài, dân làng sực nhớ câu sấm, rủ nhau chạy đến xin nhà vua phong tước Hầu cho cả làng. Bất đắc dĩ vua đành phong tước Hầu cho tất cả dân làng. Sau đó, thấy tình hình không ổn vua Chiêu Thống đi sang Tàu.
2. NGỰA TRONG NGÔN NGỮ
Trong ngôn ngữ Việt có một số thành ngữ và điển tích liên quan đến Ngựa
– NGỰA TRUY PHONG: Ngựa đuổi theo gió, ý nói ngựa phi nhanh, chạy nhanh.
“Rằng ta có ngựa truy phong
Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi” (Kiều/1107-1108)
Ngựa truy phong là ngựa chạy nhanh như đưổi theo gió. Sách Hán Thư, Vương Bao luận ghi: “Tham thặng đán giá khiết tất, truy phong nhiếp điện, vạn lý nhất tức” nghĩa là: cỡi ngựa Thặng đán, kéo xe khiết tất, đuổi theo gió chớp, muôn dặm một hơi.
Trong văn chương Việt Nam, thành ngữ “quất ngựa truy phong” chỉ thị hành vi lừa gạt tiết trinh, tình ái của phụ nữ, sau khi ân ái là bỏ chạy luôn, không trở lại.
– NGỰA KÝ, NGỰA KỲ
Theo Chiến Quốc sách, có hai loài ngựa tên là Ký và Kỳ đều là loại thiên lý mã. Ngựa Kỳ có mầu xanh đậm. Sách ghi: ”Ký, Kỳ thạnh tráng chi thời, nhất nhật nhi tri thiên lý”: Ngựa Ký, nhựa Kỳ lúc trẻ mạnh, một ngày vượt qua ngàn dặm. Nghĩa bóng chỉ người tài giỏi.
“Trói chân kỳ ký tra vào rọ
Rút ruột tang bồng trả nợ cơm” (Cao Bá Quát – Than Thân)
– NGỰA CÂU: Ngựa non, ngựa sung sức
Thời gian như bóng câu qua cửa (nghĩa là thời gian đi rất nhanh)
– NGỰA CHỨNG: “một con ngựa hay thường có chứng” nghĩa là không tuân theo các quy tắc thông thường, chỉ muốn làm theo sở thích của mình. Ngựa chứng phải có người cao tay mới có thể thuần phục để phát huy tài năng. “Ngựa hay có chứng” cũng như “người có tài thì có tật”.
– NGỰA THƯỢNG TỨ:
. Ngựa Thượng Tứ là ngựa tốt được nuôi và rèn luyện tại Viện Thượng Kỵ của Kinh Ðô Huế. Viện Thượng Kỵ nằm phía trong cửa Ðông Nam Môn (cửa Thượng tứ), nơi có xe Tứ Mã của Vua. Chữ “Thượng” chỉ những gì thuộc về Vua (như Hoàng Thượng, Thánh Thượng, Chúa Thượng), “Tứ” là xe bốn bánh do ngựa kéo”. Dân Huế, rất ít ai gọi cửa Ðông Nam, hầu hết đều gọi là cửa Thượng Tứ, do đó cái tên này đã đi vào văn học và cả lịch sự nữa.
Một số người Huế dùng ba tiếng “Ngựa Thượng Tứ” như một từ ngữ để “mắng” những cô gái sống hồn nhiên, phóng túng, không giữ gìn đúng mức phong tục tập quán của Huế xưa. Dường như từ ngữ này xuất phát từ một vài bà mẹ quá lo lắng cho con gái của mình, nhưng các cô lại không nghe lời dặn dò, dạy dỗ. “Ngựa Thượng Tứ” là ngựa chiến chứ không phải là ngựa thường, do đó chắc “có lẽ” những cô bị gọi là “ngựa Thượng Tứ” không thể là hạng tầm thường. Có một vài người đã cho rằng từ ngữ “ngựa Thượng Tứ” chỉ những cô gái hoặc phụ nữ không đứng đắn, những người tham nhục dục. Dĩ nhiên là có một vài nơi tại Việt Nam, người ta dùng chữ “đĩ ngựa” để chỉ những người ưa phô trương, thích xông ra những nơi công cộng để vui chơi. Có nơi chỉ nói là “Ngựa quá!”, tức thay có chữ “rượng” có nghĩa là thích làm đẹp, làm điệu bộ và phô trương trước nhiều người để được khen vân vân. Nhiều cô gái để đầu tóc “đuôi ngựa” (queue-de-cheval) khá nhí nhảnh.
Vua Tự Ðức đã đọc Truyện Kiều, vịnh Kiều. Ðộc đáo nhất là nhà vua đã ngự bút hai câu thơ bất hủ, và đã trở thành ca dao:
“Mê gì như mê tổ tôm,
Mê ngựa Thượng Tứ, mê nôm Thúy Kiều”
NGỰA THÀNH TROY
“ NGỰA THÀNH TROY”: là một con ngựa bằng gỗ khổng lồ do quân đội Hy lạp làm ra trong thời gian đánh thành Troy. Người thiết kế là Epeius. Truyền thuyết kể rằng: một cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và dân Troy ở phía Tây Anatolia, vào khoảng thế kỷ 12 hoặc 13 trước Tây lịch. Cuộc chiến này đã đem lại rất nhiều hứng thú cho trí tưởng tượng người Hy Lạp cổ đại hơn tất cả các biến cố lịch sử khác.
Cuộc chiến với Troy kéo dài 10 năm, kết quả, quân Hy Lạp có ý muốn rút lui. Quân Hy Lạp để lại một con ngựa gỗ khổng lồ trong lòng kín có những quân lính ẩn núp. Khi quân Hy Lạp đã đưa thuyền ra gần đảo Tenedos, thì Sinon, một người Hy Lạp bị bỏ lại, đã thuyết phục dân Troy rằng con ngựa này là một cống phẩm cho thần Athena để cầu cho Troy được vững bền, kiên cố. Mặc dù Laocoon và Cassandra đã cảnh cáo, con ngựa vẫn được đưa vào trong thành. Nửa đêm hôm đó, những chiến sĩ ẩn núp trong lòng ngựa thoát ra mở cổng cho quân Hy Lạp giả vờ rút lui tràn vào đánh chiếm thành Troy. Từ thoại này, từ ngữ “Ngựa thành Troy” mang ý nghĩa cuộc âm mưu lật đổ từ bên ngoài.
HOÀNG TỬ BẠCH MÃ (tiếng Anh: Prince Charming): đây là một nhân vật truyền thuyết, một chàng trai đẹp đẽ ra tay giải cứu cho một thiếu nữ gặp nạn và đã buộc phải dấn thân vào một hành trình tìm kiếm để giúp nàng ấy thoát khỏi một lời nguyền độc ác. Hoàng tử Bạch Mã là người anh tuấn và lãng mạn, được xem như một biểu tượng mà nhiều người nữ mơ ước.”Hoàng Tử Bạch Mã” đồng thời cũng được dùng như một thuật ngữ để chỉ người đàn ông lý tưởng nhiều người mơ có được để làm chồng tương lai.
NÚI BẠCH MÃ:
Núi Bạch Mã cách thành phố Huế 40 Km về phía Nam, có đỉnh cao 1.444 m. Trên đỉnh núi bốn mùa xanh tươi với thác nước, suối, rừng… Núi Bạch Mã còn là nơi quy tụ nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm miền nhiệt đới. Đầu thế kỷ 20, Bạch Mã chỉ là một khu rừng núi hoang sơ, chưa ai khai phá nhưng đến cuối năm 1925, kế hoạch thành lập và bảo tồn khu vườn quốc gia gần Huế đã làm mọi người chú ý đến vùng núi này.
Một kỹ sư người Pháp là Girard đã tổ chức khai phá vùng núi này vào năm 1932 nhằm phát triển du lịch của Bạch Mã. Sự việc này gia tăng số lượng khu nghỉ mát ở trên núi gồm các biệt thự, khách sạn và kéo theo đó là phát triển giao thông công cộng. Dù vậy các công trình này chủ yếu phục vụ giới thượng lưu có tiền thời đó cùng các quan chức của Pháp.Đến năm 1960, chính phủ Việt Nam Cộng hòa quyết định thành lập lại Vườn quốc gia Bạch Mã nhưng chiến tranh tiếp tục kéo dài liên miên. Khu Bạch Mã được dùng làm căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trong chiến tranh.
ĐĨ NGỰA
Một từ ngữ mà người Việt miến Nam dùng để chửi, mắng một người đàn bà đỏm đáng, phấn son lòe loẹt, lẳng lơ và mạnh dạn trong việc quyến rũ đàn ông…”Đồ đĩ ngựa…”
MỘT CON NGỰA ĐAU CẢ TÀU BỎ CỎ
Nghĩa đen: Trong chuồng ngựa (tàu), khi có một con bị đau ốm, không ăn thì tất cả những con ngựa khác cũng không ăn cỏ. Nghĩa bóng: chỉ sự liên đới, gắn kết với nhau trong tình tương thân, tương ái, sự lo lắng cho đồng đội với nhau, tinh thần đoàn kết.
TÂM VIÊN Ý MÃ (Lòng vượn Ý ngựa)
Trong giáo lý nhà Phật: Tâm được xem như con vượn không ở yên, luôn leo trèn, chạy nhảy từ cây này qua cây nọ. Ý (suy tư/ ý tưởng) thì như con ngựa luôn ưa chạy nhảy, hoạt động không ở yên một chỗ…Thành ngữ này chỉ sự vọng động của tâm, ý và tư tưởng của con người ở đời…Cấn phải tu tập để Tâm tịnh, Ý định…
CÁ NGỰA:
Một loại động vật sống ở các biển vúng nhiệt đới, tên khoa học là “Hippocampus”. Tiếng Việt là Hải Mã. Trong Đông Y, hải mã là một vị thuốc có tính ấm. vị ngọt, hơi mặn…đi vào kinh Can, Thận có tác dụng bổ thận, tráng dương, tiêu thủy, chỉ thống (giảm đau).
NGỰA TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA
Ngưạ là sinh vật thứ bẩy trong chu kỳ niên lịch của Trung Hoa. Thời cổ, tại Trung Hoa có rất nhiều tên để gọi những con ngựa có mầu sắc và kích thước khác nhau, nhưng ngày nay, những danh từ ấy đã bị mai một, điều này nói lên sự suy yếu về vai trò của Ngựa trong lịch sử hiện đại.
Tuy vậy, tại Trung Hoa, Ngựa luôn luôn có giá cao. Ngựa mạnh nhất thuộc giống Mông Cổ; Ngựa vừa nhưng rất cứng cáp, khỏe mạnh và bền bỉ, thuộc giống Tây Tạng. Dĩ nhiên là một vài loại ngựa tốt nhất đều được nhập từ miền Tây Á, nghĩa là ngựa Ả-Rập, thường được truyền tụng là “có máu ham làm việc” ố Ngựa mồ hôi máu (”Sweated blood”)
Thời thượng cổ, có tục thờ một Tổ tiên của ngựa, một loại linh thần mà người ta phải dâng cúng bằng lễ hy sinh nhân mạng.
Trong Dịch Kinh, con rồng đực và con ngựa cái là hai sinh vật được chọn để biểu tượng cho hai phái Nam, Nữ. Nhưng trong các thần thọai về sau, thì ngựa tuợng trưng cho Dương (yang-male principle) trong lúc Âm (yin-female principle) được tượng trưng bằng con bò cái.
Tranh vẽ “một bầy gồm tám con ngựa” biểu tượng cho những con ngựa danh tiếng của Chu Mục Vương (King Mu), vua thứ 5 đời nhà Chu bên Trung Hoa. Theo sách sử thì đây là tám con ngựa hay, đã kéo xe đưa Mục Vương đi tuần thú khắp nơi. Tám con ngựa tùy theo màu lông được đặt các tên riêng như sau: Xích Ký, Ðạo Ly, Bạch Nghĩa, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu và Lục Nhĩ.
Chu Mục Vương (1001 TTL-947 TTL) là một vị vua sáng suốt, công minh, đã sử dụng nhiều hiền tài làm cho Nhà Chu hưng thịnh, tám con ngựa của ông cũng đi vào lịch sự điển tích và vào hội họa với “Bát Tuấn Ðồ Mã” (Tranh vẽ tám tuấn mã).
Người Trung Hoa vẽ tranh tám con ngựa với ý nghĩa “Mã Ðáo Thành Công” (Ngựa Về Thành Công). Bức tranh ngựa Mã đáo thành công có tám con, vì chữ “Bát”(?) là số 8, đọc theo tiếng Hán cùng một âm với chữ “Phát”, có nghĩa là hưng khởi, giầu sang lên (phát tài, phát phúc, phát đạt). “Mã đáo”(ngựa đến nơi), hàm ý may mắn trở về sau một chuyến đi. Ý nghĩa của bức tranh liên quan với sự kiện giao thông thời xưa.
Thời xưa, ngựa là phương tiện đi lại thuận lợi nhất vì ngựa chạy nhanh, khỏe và thông minh, rất gần gũi với con người. Ngựa được dùng làm phương tiện đi lại, chuyên chở trong buôn bán, nhất là kéo xe cho Vua và trong các cuộc chinh chiến.
Trong thời thượng cổ và trung cổ, một chuyến đi xa kéo dài nhiều tháng, có khi nhiều năm, mới quay về. Ngựa đi chinh chiến thì thường gặp nhiều nguy hiểm, có chiến sĩ ra đi không trở về vì “chiến trường da ngựa bọc thây” “mấy ai ra đi hẹn về” hoặc “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Cho nên “mã đáo” có nghĩa là may mắn quay trở về.
Về phong thủy, tranh “Mã đáo thành công” thường chỉ dành tặng những người mới bắt đầu làm ăn buôn bán, mới khai trương hoặc những người đang trên đường lập công danh…
Truyện Tây Du Ký thời Ðại Minh có từ ngữ “Ý Mã” có nghĩa là ngựa của ý chí và sự hay thay đổi. Ngựa “Xích Thố” (Thỏ đỏ) của Quan Vũ (tức Quan Vân Trường) rất thông minh và gan da,ỳ đã giúp cho Quan Vân Trường thoát qua sáu ải trong chiến tranh với Tào Tháo (Tào Mạnh Ðức).
Tranh vẽ một người đăt con ngựa được thắng yên cương đẹp đẽ là lời chúc thăng quan, tiến chức.
Tranh một con khỉ cưỡi ngựa biểu trưng cho lời chúc được phong quan tước cao sang (Hầu tước/ khỉ tiếng Trung Hoa là hầu. Trên lưng ngựa gọi là mã thượng.
Tại Ðài Loan hiện nay, “ngựa” là một từ ngữ bình dân để chỉ “bạn gái”. Tuy nhiên việc dùng từ “ngựa”với hàm ý thấp kém để chỉ một người con gái đã có từ thời xa xưa. Khoảng thế kỷ thứ 16 ở Hàng Châu đã có chợ bán “những con ngựa bé nhỏ (ấu mã). Tại đây có hơn trăm con gái bán thân và khách hàng có thể mặc cả giá trực tiếp với các cô gái, không qua một mai mối, trung gian nào.
Từ ngữ “Xuống Ngựa” được quy chiếu về một nhà pháp thuật đang kêu gọi các thần linh đến với ông ta.
Trong văn hóa Trung Hoa, một bức tranh vẽ một người đàn ông và một con ngựa mang đầy đồ đạc quý giá,
diễn tả lòng mong cầu một chức tước đem lại đời sống phong lưu thoải mái.
Một con khỉ (hầu) cỡi ngựa diễn tả ước mơ ”Công Hầu Khanh Tướng” – Khỉ tiếng Tàu là Hầu, ngừơi ta dùng tượng thanh để chúc tụng nhau…
Trong thời hiện đại, tại đảo Ðài Loan, tiếng ”ngựa” trở thành một từ ngữ tầm thường ám chỉ ”gái chơi”. Thực ra thì không phải là chuyện mới lạ, việc dùng chữ ”ngựa” như tiếng lóng để chỉ ”con gái” đã có từ xa xưa.
Tại Trung Hoa, vào thế kỷ 16, người ta nghe nói đến một ngôi chợ trong thành phố Dương Châu (Yang-Zhou) có bán ”ou-ma” tức ”những con ngựa da”. Tại đây có hơn trăm kỹ nữ (gaí đĩ) đựợc trưng bầy và khách có thể trả giá trực tiếp với các cô gái, không cần qua một trung gian nào.
Thành ngữ ”xuống ngựa” quy chiếu cho một thầy phù thủy đang kêu gọi thần linh đến viếng ông ta.
“Mắt ngựa” là tiếng ám chỉ Quy đầu và ”ngựa lắc mông” là một trong 30 vị thế của giao hợp.
NGỰA CỦA ÔNG GIÀ HỌ TÁI
Truyện “Tái Ông thất mã” (Ông già họ Tái mất ngựa)
Vào thời nhà Tần bên Trung Hoa, ở vùng gần cửa ải có một ông già họ Tái, đời sống sung túc, sinh được một trai khôi ngô, khỏe mạnh, lại nuôi được một con ngựa quý đáng giá trăm nén vàng. Bỗng một hôm con ngựa sổng chuồng đi mất. Hàng xóm thương tình đến thăm hỏi, cho rằng đó là một tai họa cho gia đình. Ông già họ Tái nói: “Sao biết đó là họa? Biết đâu đó là phước!”
Mấy hôm sau, con ngựa trở về, rủ thêm một con tuấn mã nữa. Người làng vui mừng đến chúc phúc, ông già họ Tái đáp: “Chưa chắc đã là phước”.
Khi có thêm tuấn mã, người con trai ông ngày nào cũng cỡi ngựa phi rất hăng say. Kết quả chàng ta bị te,Ô ngựa què một chân. Người làng lấy làm xót xa, an ủi cho rằng thật là chẳng may mắn, thật là một tai họa. Nhưng ông già họ Tái lại nói: “Biết đâu đó là phước cho gia đình tôi”.
Quả nhiên, ít lâu sau, vì sợ giặc từ phương Bắc, vua Tần sai đắp Vạn Lý Trường Thành, trai tráng hầu hết bị bắt đi làm dân phu khổ nhọc, bệnh ốm chết rất nhiều. Con trai ông vì què được miễn dịch, gia đình không bị ly tán, phước nào hơn. (theo Chiến quốc sách).
Vì vậy ở đời họa-phúc không biết đâu mà tính được để kết luận dở hay. Các nhà nho thường nói câu: “Tái ông thất mã, an tri vi họa, an tri vi phúc” nghĩa là “Ông già họ Tái bị mất ngựa, sao biết là họa, sao biết là phúc” để giúp người đời giữ bình tĩnh trước những chuyện không may xẩy đến cho bản thân, gia đình. Chuyện “Tái ông thất mã” là một lối xử thế tự tại rất đáng được suy gẫm.
NGỰA TRONG HUYỀN THOẠI VÀ LỊCH SỬ
NHÂN MÃ “CHIRON”
Trong thần thoại Hy Lạp có Chiron là một trong những quái vật mình ngựa, đầu người. Thoại kể rằng, Chiron là một quái vật khôn ngoan và ngay chính. Ông ta vốn là con trai của thần biển Oceanid Philyra và thần Kronos. Vì sợ sự ghen tuông của thần Rhea (thần Ðât), nên đã tự biến mình thành một con ngựa đực và Philyra hóa thành ngựa cái. Do đó mà Chiron hóa thành nửa người nửa ngựa. Chiron được thần Apollo và Artemis dạy cho nghệ thuật âm nhạc, y thuật, tiên tri và săn bắnà Sau đó, đến lượt Chiron phải truyền lại cho các anh hùng Achaen như Jason, Achilles vân nân và dạy cho thần AESCULAPIUS nghệ thuật y khoa. Trong khi đang đi săn cùng các Centaur khác, Chiron bị trúng một mũi tên tẩm độc của HERACLES. Mặc dù được trường sinh bất tử, nhưng vì không chịu đựng được nỗi đau đớn Chiron đã trao tính bất tử của mình cho PROMETHEUS, rồi chết. Thần ZEUS đã đặt ông ta giữa những chòm sao như Sagittarius (Thiên Cung) và Archer (chòm Nhân Mã).
LONG MÃ PHỤNG ÐỒ
Là một biểu tượng thường thấy ở các bức bình phong trước đền thờ, chùa, miếu ở Việt Nam và Trung Hoa. Long Mã là con vật huyền thoại mình ngựa đầu rồng.
Thần thoại Hồi Giáo, ngựa Al Borak đã đưa Muhammad từ quả đất lên tầng trời thứ bẩy.
Ngựa Ðen, trong Thánh Kinh (Mặc khải) là biểu tượng của nạn đói kém.
NGỰA “Ý MÔ CỦA ÐƯỜNG TĂNG
Sử ghi rằng, tại Qua Châu, Ðường tăng được quan thứ sử chỉ đường: đi tiếp 50 dặm (khoảng 30 cây số) sẽ tới ải Ngọc Môn Quan, rồi tới năm phong hỏa đài, mỗi đài cách nhau chừng 100 dặm (khoảng 60 cây số), rồi tới nước Y Ngô [Uigur hay Uighur, nay thuộc khu tự trị Tân Cương].
[Phong hỏa đài: đài truyền tin bằng cách hun khói (phong) lúc ban ngày hay đốt lửa (hỏa) lúc ban đêm để báo hiệu mỗi khi có giặc tới xâm phạm biên cương. Ðài kế đó trông thấy cũng báo tin như vậy cho ải kế tiếp, cứ thế truyền tin lần lần cho tới ải Ngọc Môn Quan.]
Tại Qua Châu con ngựa ngã bệnh và chết; Ðường Tăng được một trai tráng xin theo làm đệ tử, nên mua hai con ngựa. Hôm sau người đệ tử dẫn tới một ông lão đem theo một con ngựa hồng, già và gầy. Ông lão xin đổi ngựa với Ðường Tăng, vì ngựa ông lão đã quen thuộc đường đi sang nước Y Ngô (Hán gọi là Uy Ngô Nhĩ). Ðường Tăng đồng ý. Hai thầy trò đi gần đến ải Ngọc Môn Quan thì đệ tử xin trở về Qua Châu. Ðêm trước, ông suýt bị y ám sát.
Theo truyện Tây Du Ký, thì Ðường Tăng đi đến khe Ưng Sầu, núi Xà Bàn, con ngựa do vua Nhà Ðường tặng bị con rồng tinh ăn thịt. Rồng tinh này nguyên là thái tử thứ ba, con Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận. Bồ Tát Quan Âm bắt rồng tinh phải hóa thành con ngựa bạch (coi như thế mạng) để đưa Ðường Tăng đi thỉnh kinh. Lúc ngựa được dẫn tới, Ðường Tăng ngạc nhiên thấy con ngựa này có vẻ béo hơn con trước. Ðó là Bạch Long Mã.
Bạch Long Mã hay Tiểu Bạch Long là con của Tây Hải Long Vương (em Ðông Hải Long Vương) là đồ đệ thứ tư của Ðường Tăng đi thỉnh kinh ở Tây Thiên trong tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân.
Tiểu Bạch Long học được 9 phép thần thông biến hóa (thua Sa Tăng hai lần). Ngày trước là Tam Thái Tử của Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận, vì bị người tình phản bội nên giận dữ đã đốt cháy báu vật mà Ngọc Hoàng Thượng Ðế tặng cho, đáng lẽ bị tội chết. Nhưng Quan Thế Âm Bồ Tát đã cho đi phò giá Ðường Tăng để chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra.
Khi Ðường Tăng vừa thu phục Tôn Ngộ Không, Tam Thái Tử đã ăn thịt con ngựa mà Ðường Tăng cưỡi nên đã bị Ngộ Không tìm đến đòi mạng. Võ công của ông và Ngộ Không là một trời một vực nên ông đã sớm thất bại và rút xuống nước. Sau đó, Quan Âm Bồ Tát đã gọi lên để Tiểu Bạch Long đi theo phò giá Ðường Tăng.
Bạch Long Mã là một người quân tử, khôi ngô tuấn tú, song vì quá mê tửu sắc, nên khi bị người tình phản bội đã nông nổii đập nát báu vật mà Ngọc Hoàng Thượng Ðế ban cho. Khi phò giá Ðường Tăng ông là một con ngựa, rất ít khi cùng các sư huynh tham gia chiến đấu với yêu quái, trong trận Hoàng bào quái là một lần hiếm hoi ông tham gia chiến đấu và báo cho Trư Bát Giới biết Ðường Tăng đã bị Hoàng bào quái biến thành hổ, đó là trong Tây du ký năm 1986.
Trong phiên bản Tân Tây du ký ông được biết đến nhiều hơn qua những lần cùng sư huynh chiến đấu yêu quái và bảo vệ hành lý khi Sa Tăng bị bắt.
NGỰA SẮT CỦA PHÙ ÐỔNG THIÊN VƯƠNG
“Ngựa sắt ở trời danh ở sử
Uy linh lừng lẫy khắp giang san.”
Truyện kể rằng: Ðời Vua Hùng thứ ba, dân tình an cư lạc nghiệp. Vua nhà Ân nhận thấy Lạc Việt thiếu lễ triều cống, liền tìm cách đem quân đánh chiếm. Vua Hùng nghe tin liền mời triều thần họp bàn việc chống giặc Ân. Có người tâu Vua rằng:
– Nên cầu Long Quân về giúp đỡ là hay nhất.
Vua Hùng nghe theo, cho lập đàn và bầy lễ vật, đốt hương cầu tế ba ngày. Trời bỗng dậy sấm sét và mưa, rồi một ông lão cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ hiện ra ngồi ở ngã ba đường, nói, cười, múa rất phi thườngà Sự việc được tâu với vua. Vua nghĩ là bậc thần linh, đích thân đến bái yết, rước vào trong đàn tế. Ông lão không ăn uống, nói năng gì cả. Vua Hùng đến trước mặt, hỏi:
– Nay binh nhà Ân sắp sang đánh, hơn thua ra sao, nếu có kiến thức gì xin hãy bày cáo cho.
Trầm ngâm giây lát, ông lão lấy thẻ ra bói, rồi tâu rằng:”Sau ba năm giặc mới qua đánh.”
Vua hỏi làm sao mà phá giặc, ông lão đáp:
– Nếu muốn chống giặc thì phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ tốt để cho nước có uy thế, rồi rao truyền trong dân chúng tìm xem ai có thể ra dẹp giặc thì phong tước cho. Nếu gặp được người như vậy thì dẹp được ngay.
Nói xong ông lão bay lên không trung mà đi. Vua nghe theo lời vị thần linh. Ðúng ba năm, quân biên thùy cấp báo có quân Ân sang. Vua Hùng sai sứ đi rao trong thiên hạ để tìm người ra dẹp giặc cứu nước.
Tại làng Phù Ðổng, quận Vũ Ninh có đứa con trai lên ba tuổi con của hai ông bà nhà giầợu hơn sáu mươi tuổi, từ lâu nay chỉ nằm trong nôi chờ ăn, không đi đứng, nói năng gì cả. Hai ông bàỳ rất buồn khi nghĩ đến đứa con vô dụng. Nhưng khi nghe tiếng loa của sứ giả triều đình kêu gọi ai có tài ra giúp nước thì đứa trẻ bỗng nói với mẹ: – Hãy mời sứ giả vào đây, con hỏi xem là việc gì?
Bà mẹ vừa mừng con đã biết nói, vừa sợ mang họa, nhưng bà đã cùng xóm làng mời sứ giả vào cho đứa trẻ. Nó liền ngồi dậy bảo sứ giả: – Lập tức về tâu Vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh gươm dài bảy thước và một nó sắt, trẻ này sẽ cỡi ngựa đi đánh tan giặc, nhà vua đừng lo.
Sứ giả chạy về báo lên vua. Vua mừng rỡ cho đúc ngựa sắt, rèn gươm và làm nón sắt theo đúng đòi hỏi của cậu bé. Vua tin tưởng đây là sự phù trợ của Long Quân.
Khi ngựa, gươm, nón sắt đã xong, sứ giả đem đến làng Phù Ðổng cho cậu bé ba tuổi. Bà mẹ lo sợ. Cậu bé nói:
– Mẹ đem thật nhiều cơm cho con ăn để con đi đánh giặc.
Cơm được đem đến, cậu bé ăn thật nhiều đến nỗi phải gom cơm cả làng mà không đủ noà vì cậu bé lớn lên rất mau, vải vóc không đủ che kín thân thểà
Khi quân nhà Ân vào đến Trâu Sơn, cậu bé duỗi chân, vươn vai đứng dậy, mình cao hơn mười trượng, đội nón, cầm gươm nhẩy lên ngựa sắt, thúc vào mông, ngựa phi như bay về phía giặc, miệng phun ra lửaà Giặc Ân dàn trận ở chân núi Trâu Sơn bị đốt cháy, bị chémà liền tháo chạy, vua nhà Ân tử trận. Giặc tan. Cậu bé phi ngựa về phía núi Việt Sóc, cởi chiếc áo đang mặc vắt lên một cành cây rồi cùng ngựa bay lên trờià chỉ để lại dấu chân ngựa ở chân núiàVua biết ơn, lập đền thờ, tôn là Phù Ðổng Thiên Vương. Dân gian gọi là Thánh Gióng. Ðời vua Lý Thái Tổ, phong là Xung Thiên ThầnVương, tạc tượng ở núi Vệ Linh. (phỏng theo Phạm Cao Dương, Lịch sử Dân tộc Việt Nam, q1)
XÍCH THỐ CỦA QUAN VÂN TRƯỜNG
“Ông Quan Công sáu ải thoát qua
Cũng cậy có thanh long, xích thố” (LSTC)
Xích thố là con ngựa mầu đỏ của Quan Vân Trường, tức Quan Vũ, một hổ tướng của Lưu Huyền Ðức, thời Tam Quốc (Trung Hoa). Xích thố là ngựa quý của Lữ Bố sau thuộc về Quan Vũ. Nó đã giúp cho Quan Vân Trường vượt qua nhiều gian nguy trong chiến trận.
NGỰA THIÊN LÝ
Vua nước Dịch sai người đi mua ngựa quý. Sứ giả đi nhiều ngày chưa mua được. Trên đường đến một thị trấn, bỗng thấy một đám đông vây quanh một con ngựa chết, khóc lóc, thương tiếc, xót xa, Hỏi ra được biết đó là một con thiên lý mã hiếm hoi mà phải chết đi. Sứ giả liền trả giá năm trăm lượng vàng xin mua bộ xương ngựa thiên lý chết đem về. Vua tức giận quát mắng: Xương ngựa chết mua làm gì, phí vàng mà chẳng ích gì.
Người mua xương ngựa tâu rằng: “Ðây chỉ là một kế cao, xương ngựa hay mà ta còn quý như thế thì tuấn mã còn sống ta quý đến chừng nào!” Tiếng đồn vua nước Dịch quý ngựa đến thế, nên khắp nơi có ngựa quý đều đem dâng cho vua.
Truyện này ngụ ý: biết trân quý người thì người sẽ tìm tới, biết trân quý vật thì người ta sẽ hiến dâng. (theo sách Mạnh Tử).
BẠCH MÃ: Ngựa trắng thường xuất hiện trong kinh văn Phật Giáo, tượng trưng cho sự tinh tấn và trung thành.
‘MĂ ĐÁO THÀNH CÔNG’
Tranh vẽ “một bầy gồm tám con ngựa” biểu tượng cho những con ngựa danh tiếng của Chu Mục Vương (King Mu), vua thứ 5 đời nhà Chu bên Trung Hoa. Theo sách sử thì đây là tám con ngựa hay, đã kéo xe đưa Mục Vương đi tuần thú khắp nơi. Tám con ngựa tùy theo màu lông được đặt các tên riêng như sau: Xích Ký, Ðạo Ly, Bạch Nghĩa, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu và Lục Nhĩ.
Chu Mục Vương (1001 TTL-947 TTL) là một vị vua sáng suốt, công minh, đã sử dụng nhiều hiền tài làm cho Nhà Chu hưng thịnh, tám con ngựa của ông cũng đi vào lịch sự điển tích và vào hội họa với “Bát Tuấn Ðồ Mã” (Tranh vẽ tám tuấn mã).

NGUYỄN CHÂU
San Jose, Xuân Bính Ngọ – 2026



