Friday, July 10, 2026

Đêm Lạnh Trùng Dương

Truyện ngắn Đào Văn Bình

Trời phú cho Hoàng Nhung một vẻ đẹp quyến rũ nhưng lại có nét thoáng  buồn. Chính vì sự phối hợp kỳ lạ này mà Hòang Nhung bề ngòai mang dáng  vẻ một con người lạnh lùng khó khuất phục giống như hoa hồng đẹp ai  cũng muốn hái nhưng lại sợ gai đâm. Do đó hầu hết những người quen  biết nàng, yêu nàng đều ngần ngại bộc lộ tình cảm của họ.

Năm 1968 nàng là cô nữ sinh viên năm thứ ba Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Như thế là chỉ còn một năm nữa nàng sẽ lấy nốt một số chứng chỉ còn  lại, sau khi tốt nghiệp xong, nàng có thể nạp đơn xin làm giáo sư Anh Văn. Năm đó nàng mới hai mươi ba tuổi. Ai cũng nghĩ cả chuỗi ngày còn  lại của nàng sẽ thật êm đềm, phẳng lặng bởi vì cuộc đời của một cô giáo thì làm gì có nhiều sóng gió.

Thế nhưng cũng năm đó, do luật lệ mới, ông cụ thân sinh phải về hưu. Ông cụ là nguồn cung cấp chính cho gia đình. Còn bà cụ thì suốt đời lo  việc nội trợ, phục vụ chồng con cho nên gia đình lâm vào cảnh túng  thiếu. Không nỡ nhìn cảnh đó, Hòang Nhung quyết định xin làm thông  dịch viên cho cơ quan USAID với số lương ngang với số lương của ông  trung tá lúc bấy giờ, nhưng cũng hy vọng dù có phải kéo dài thêm năm  nữa thì cũng lấy xong bằng cử nhân thôi. Thế nhưng không ngờ sáu tháng  sau nàng có lệnh thuyên chuyển ra ngòai Vũng Tàu.

Kể từ năm 1965 là năm quân Mỹ ào ạt đổ vào Miền Nam, Vũng Tàu trở nên  một hải cảng tiếp vận  quan trọng. Cơ quan USAID đóng tại một khách sạn lớn mà vị giám đốc  tên là Jimmy mới có hai mươi bảy tuổi, đẹp trai, độc thân. Chàng là  con của vị Đại Sứ Hoa Kỳ tại Venezuela, Nam Mỹ. Hoàng Nhung được phối  trí thông dịch cho Jimmy. Nàng có một phòng làm việc bên cạnh văn  phòng của Jimmy. Jimmy rất hãnh diện có một cô thông dịch viên trẻ đẹp  như thế. Từ đó Hòang Nhung thường đi sát với Jimmy trong các buổi họp  của tướng tá Việt-Mỹ cũng như các giới chức hành chánh cao cấp của  Vũng Tàu.

Jimmy có tác phong rất lịch sự đối với nhân viên. Sau một ngày làm  việc mệt nhọc, Jimmy thường  lái chiếc Bronco màu trắng đưa Hòang Nhung tới một nhà hàng sang trọng  ở Bãi Dứa để ăn cơm chiều. Rồi hai người uống cà-phê, nhìn ra ngòai  bãi biển xa xa. Trong khi thưởng thức hương vị cà-phê, Jimmy thuờng  chăm chú lắng nghe Hòang Nhung kể về đời mình, quê hương mình, đất  nước và con người Việt Nam. Mỗi lần như vậy, Jimmy thường nhìn Hòang  Nhung với vẻ vừa trìu mến vừa xót xa cho một con người, cho một đất  nước tươi đẹp, đôn hậu nhưng đang phải chịu sự tàn phá của chiến  tranh. Cũng chính qua những lần ăn cơm chung nói chuyện như thế mà  tình cảm nảy nở giữa hai người. Vào những ngày cuối tuần, Jimmy thường  đích thân lái ca-nô để cùng Hòang Nhung lướt trên sóng nước, rồi hai  người tắp vào một ghềnh đá vắng. Lúc đó họ như đôi bạn trẻ hồn nhiên.

Có lần Jimmy hỏi Hòang Nhung:  – Thế ước mơ của Hòang Nhung là gì? 

Hoàng Nhung đáp:  -Ước mơ của Nhung là đất nước hết chiến tranh, Nhung sẽ là cô giáo dạy  Anh Văn và sẽ lấy một người chồng tương đối có học thức, không cần địa  vị cao và cùng biết xây đắp hạnh phúc chung.

Jimmy dí dỏm hỏi: 

-Thế anh chàng diễm phúc đó có cần đẹp trai không? 

Hòang Nhung đáp: 

-Dĩ nhiên phải có khuôn mặt dễ ưa rồi.

Jimmy hỏi tiếp: 

-Thế anh chàng đó có cần nói tiếng Anh giỏi không? 

Hoàng Nhung cười khúc khích đáp: 

-Không cần nói tiếng Anh giỏi, nhưng nếu biết tiếng Anh thì Hoàng  Nhung sẽ cho thêm điểm.

Trả lời xong, Hòang Nhung hỏi lại: 

-Thế còn ước mơ của Jimmy?

 -Ồ, Jimmy muốn có một người vợ Á Đông vì Jimmy thích văn hóa Á Đông.

Đó có thể là cô gái Tàu, Thái Lan hoặc Việt Nam. Nhưng có lẽ Jimmy  thích các cô gái Việt Nam hơn.

Rồi như thể được khơi đúng mạch, Jimmy nồng nàn nói: 

-Jimmy sau này sẽ kế tục cha theo ngành ngoại giao. Làm đám cưới xong  Jimmy sẽ đem cô đó về Washington D.C. giới thiệu với bạn bè, bà con.

Jimmy sẽ đưa nàng đi đây đi đó, chân trời góc biển. Jimmy thích câu truyện Phạm Lãi-Tây Thi của Trung Hoa lắm.

Nghe vậy Hoàng Nhung lại khúc khích cười, nói: 

-Jimmy là học trò giỏi lắm nhé. Mới nghe người ta kể chuyện Phạm Lãi-Tây Thi có một lần mà đã nhập tâm rồi đấy. Nè, nghe nói người Mỹ  thực tế lắm, sao Jimmy lãng mạn qúa vậy? 

Sau một vài giây suy nghĩ, Jimmy đáp: 

-Người Mỹ nào cũng cần thực tế để sống còn và vươn lên, nhưng không  phải họ không có đầu óc lãng mạn. Muốn lãng mạn thì phải thực tế  trước. Bây giờ Jimmy đã có căn bản rồi thì cũng phải cho phép Jimmy  lãng mạn chứ? 

Ba năm sau, trong một dịp nghỉ Hè, ba mẹ của Jimmy xin được phép từ  Venezuela bay qua thăm con. Jimmy mở tiệc lớn để mừng ông bà và đồng  thời cũng để giới thiệu Hoàng Nhung. Qua thư của con, ông bà đã được  biết về nàng nhưng khi gặp mặt ông bà lại càng thương mến hơn. Trong  hai tuần lễ nghỉ hè, ông bà rất thích Việt Nam nhất là món phở và chả  giò. Ông bà lại được Hoàng Nhung dẫn đi Thủ Đức, Lái Thiêu ăn trái cây  cho nên ông bà cứ than thở là không đủ phước đức để làm đại sứ tại  Việt Nam. Nhân dịp này ông bà cũng ngỏ ý xin cưới Hòang Nhung cho  Jimmy, nhưng Hoàng Nhung lễ phép đáp là xin về Sài Gòn để hỏi ý kiến  song thân xong sẽ phúc đáp ông bà rõ. Mặc dầu nói vậy nhưng thâm tâm  nàng  giằng co dữ dội. Nàng hiểu mối chân tình của Jimmy nhưng nếu lấy  Jimmy thì sớm muộn gì cũng phải rời xa quê hương – điều mà nàng không  muốn. Ngòai ra còn cha mẹ thì sao? Do đó mà nàng cứ dùng dằng, không  dứt khóat từ chối, cũng như không nhận lời cầu hôn của Jimmy.

Vào năm 1973 khi Hội Nghị Paris mở ra, và cũng do chính sách “Việt Nam  Hóa Chiến Tranh”, cơ quan USAID Vũng Tàu bị giải tán và Jimmy có lệnh  trở về Mỹ. Đó là tin sét đánh cho cả hai người. Nhưng đó là định mệnh  cho nên biết làm thế nào bây giờ? Trước khi về Mỹ, Jimmy đã chuẩn bị  cho Hoàng Nhung thật chu đáo. Jimmy mua cho Hoàng Nhung một căn nhà.

Rồi do ảnh hưởng cũng như quyền hạn của mình, Jimmy để lại cho Hòang Nhung một vài chiếc xe hơi, bán đi, cộng với số tiền trợ cấp thất  nghiệp, Hoàng Nhung đã gom được một số tiền lớn. Ngày cuối cùng trước  khi rời Việt Nam, Jimmy đưa Hòang Nhung đi ăn, lái ca-nô một vòng bờ  biển Vũng Tàu để giã từ những ghềnh đá mà hai người đã có lần ghé thăm  và có chỗ Jimmy đã khắc tên chàng và Hòang Nhung lên đó. Rồi chiều hôm  đó hai người đi bộ dọc theo Bãi Dứa.

Jimmy đã ôm sát lấy vai Hoàng  Nhung rồi xúc động nói:  -Như thế là ngày mai anh đã vĩnh viễn xa em. Không biết rồi đây cuộc  đời của em ra sao? Anh không nghĩ là Miền Nam có thể chịu đựng được  thêm vài năm nữa. Em chưa thể rời xa quê hương trong lúc này nhưng vào  một lúc nào đó…nếu quê hương này là quê hương bất hạnh thì em hãy nhớ  rằng lúc nào anh cũng dang rộng cánh tay để chờ đón em.

Hòang Nhung không nói gì mà chỉ khóc vùi. Rồi hai người cứ ngồi yên,  sát vào nhau như thế cho đến khi biển Vũng Tàu chợt ngả về chiều, chợt  tím thẫm rồi chợt tối. Rồi trùng dương kia bắt đầu trở lạnh. Sao khuya  và những ánh đèn của những con tàu bỏ neo ngòai xa lấp lánh như những  giọt lệ long lanh của đôi tình nhân trong buổi chia ly đẫm lệ.

  *** 

Sau khi Jimmy lên đường về Mỹ, với số tiền gom góp được nàng đã mở một  nhà hàng khá sang trọng và đặt tên cho nó là Quán Hoàng Hoa. Với công  việc như thế chắc chắn đời sống của nàng phải hết sức bận rộn. Rập rìu  tài tử giai nhân đến tiếp xúc với nàng, mai mối cũng có nhưng nàng vẫn  chưa chọn được ai và vẫn sống độc thân cho tới Tháng 3, 1975.

Đây là thời điềm Ban Mê Thuột thất thủ, Cao Nguyên di tản và sau đó là  cuộc rút bỏ Cam Ranh, Đà Nẵng …và Vũng Tàu trở thành địa điểm tiếp thu  cả một đạo quân tháo chạy về từ Miền Trung. Trong những ngày đầu lính,  sĩ quan đủ các sắc phục đổ về còn ít, Quán Hòang Hoa tràn ngập người  và đồ ăn làm không kịp để bán cho khách mà hầu hết là quân nhân. Nhưng  sau đó từng tàu tiếp nối từng tàu đổ tới, Vũng Tàu không còn sức chứa  rồi biến thành một thành phố hỗn lọan, nhà hàng phải đóng cửa và thành  phố cũng phải giới nghiêm vào lúc sáu giờ chiều để duy trì an ninh  trật tự. Trong số thực khách, có một người mà khi nhận ra, Hoàng Nhung  không nén được xúc động và bao kỷ niệm cũ hiện về…  Năm 1966 là năm Hoàng Nhung mới đậu Tú Tài xong và chập chững bước vào  ngưỡng cửa đại học. Giống như các nữ sinh viên năm thứ nhất khác,  Hòang Nhung vẫn còn rụt rè, e lệ. Trong lớp văn chương Anh, hầu hết  nam sinh viên đều là dân sự. Nhưng có một chàng, mới đầu Hoàng Nhung  nghĩ cũng là dân chính, nhưng có lần chàng ta mặc nguyên bộ đồ nhà  binh cho nên mới vỡ lẽ ra chàng ta là một trung úy tên Lê Hoàng Hoa

Vì bận rộn công vụ cho nên thỉnh thỏang Hòang Hoa vắng mặt và mỗi lần  đi học lại đều tíu tít hỏi thăm Hoàng Nhung về bài vở. Thấy chàng là  một quân nhân hiếu học Hoàng Nhung vui vẻ giúp đỡ và từ đó hai người  quen nhau. Năm đó Hoa hai mươi bốn tuổi, điển trai, ăn nói lịch sự.

Mới đầu sự tiếp xúc thường xuyên cũng làm Hoàng Nhung e ngại, sợ các  bạn cùng lớp xầm xì. Nhưng rồi thời gian sáu tháng qua đi, mọi việc  cũng trở nên bình thường trước mắt mọi người. Hoa cho biết trong tương  lai người Mỹ sẽ can thiệp sâu vào Việt Nam cho nên Bộ Tổng Tham Mưu đã  tuyển một số sĩ quan theo học Trường Sinh Ngữ Quân Đội để sau này  thành các sĩ quan liên lạc đồng minh. Lợi dụng cơ hội được về Sài Gòn,  chàng xin phép đơn vị trưởng mỗi tuần vài giờ để lấy nốt văn bằng Cử  Nhân Văn Khoa mà khi nhập ngũ chàng đã có một số chứng chỉ. Biết Hòang  Nhung thích kẹo chocolate, mỗi lần hỏi thăm bài vở, Hoa thường “hối  lộ” nàng một hộp kẹp Hòa Lan thật ngon. Những lần giáo sư vắng mặt,  hai người rủ nhau vào thư viện làm bài hoặc cũng có khi Hoa mời Hoàng  Nhung đi ăn kem ở Lê Lợi.

Có một lần sau khi tan học, trời mưa rất  lớn, chiếc xe Honda của Hoàng Nhung bị chết máy. Trong khi Hoàng Nhung  lúng túng không biết làm sao thì Hoa đề nghị giúp nàng bằng cách Hoa  và chú tài xế khiêng chiếc xe Honda cột ở phía sau xe Jeep rồi Hoa  đích thân lái đưa nàng về nhà. Chiều mưa hôm đó thật hú vía. Lần đầu  tiên ngồi chung xe với một thanh niên, Hoàng Nhung cảm thấy thế nào  ấy…vừa e thẹn vừa lo sợ nhưng cũng có một cái gì nôn nao, kích thích ở  bên trong. Sau cái vụ đi xe chung này thì hai người trở nên thân mật  hơn nhưng Hoa cũng không bao giờ thổ lộ tình cảm của chàng cho Hoàng  Nhung biết.

Cho đến một ngày Hoa liên tục vắng mặt rồi chàng trai đó  chẳng bao giờ quay trở lại sân trường Đại Học Văn Khoa nữa. Việc bỏ đi  của Hoa làm Hòang Nhung vương vấn một thời gian dài. Khung trời Đại  Học Văn Khoa từ đó đối với nàng trở nên quá trống trải và Hoàng Nhung  nghĩ rằng mình không bao giờ có dịp gặp lại Hoa nữa. Nào ngờ ngày hôm  nay nàng gặp lại Hoa. Nhưng người mà Hoàng Nhung gặp lại không còn là  một trung úy nữa mà là trung tá trung đòan trưởng của một trung đòan  đã tan hàng ở Miền Trung. Theo lời Hoa thì hiện nay chàng chưa biết  phải trình diện đơn vị nào.Vả lại các căn cứ quân sự Vũng Tàu đều  không còn sức chứa cho nên chàng xin Hoàng Nhung tìm cho chàng một nơi  tạm trú vài ngày để xem tình hình như thế nào và lệnh lạc như thế nào

Chiều hôm đó, đóng cửa nhà hàng xong, Hoàng Nhung lái xe đưa chàng về  nhà. Sau khi tắm rửa, cạo râu, thay bộ đồ Pyjama, Hoa trông tỉnh táo  trở lại nhưng nét mặt phong sương vẫn cò đầy nỗi ưu tư, lo lắng. Hoàng  Nhung pha cho Hoa một ly cà-phê sữa rồi lấy ở trong ví ra một bao  thuốc lá Pall Mall. Nhìn bao thuốc, Hoa hết sức ngạc nhiên rồi mặt  tươi lên như một đứa trẻ.

Chàng cảm động nói:  -Trời ơi! Hoàng Nhung còn nhớ “gu” thuốc lá Pall Mall của anh sao? 

Hoàng Nhung hơi chút e thẹn cười đáp:  -Nhung quên làm sao được. Những lần đi ăn kem chung, anh đều mở bao  thuốc Pall Mall hút rồi ngắm nhìn mình, kem chảy hết lúc nào không  hay. Cứ mỗi lần anh cho Nhung kẹo chocolate, Nhung đều nghĩ đến chuyện  mua thuốc Pall Mall để biếu lại anh, nhưng Hoàng Nhung sợ làm như thế  thì bạo dạn quá nên lại thôi

Hoa trong lòng vui sướng khi được biết năm xưa Hòang Nhung đã có cảm  tình đặc biệt với mình nhưng cũng vừa nuối tiếc vì những ngày đó không  còn nữa.

Chàng lên tiếng hỏi Hoàng Nhung nhưng cũng như để tra vấn cả  chính mình: 

-Tại sao lúc đó chúng mình cái gì cũng sợ cả Hoàng Nhung nhỉ? 

Sau phút tư lự Hoàng Nhung nói: 

-Phải, tuổi trẻ lúc tình còn trong trắng người ta lo sợ đủ thứ cả. Khi người ta bạo dạn và không còn chút lo sợ thì tình không còn đẹp nữa  đâu anh. Anh thử nghĩ xem một người con gái ở tuổi hai mươi và trong  nề nếp của xã hội Đông Phương như thế làm sao dám thổ lộ trước tâm  tình của mình cho người con trai biết?

 Khẽ buông tiếng thở dài, Hoàng Hoa lấy muỗng quậy ly cà-phê sữa rồi  châm điếu thuốc. Khi cà-phê đã thấm giọng và điếu thuốc mà chàng thèm  đến chết sau gần bốn ngày căng thẳng vật lộn với bao hiểm nguy trong  cuộc di tản bằng tàu Hải Quân, đã làm đầu óc chàng tỉnh táo trở lại

Chàng chậm rãi kể cho Hoàng Nhung cuộc đời mình từ khi chàng rời sân  trường Đại Học Văn Khoa.

Chàng nói: 

-Năm đó anh vẫn còn độc thân. Mới đầu anh nghĩ dù là một quân nhân  nhưng vẫn cần kiến thức đại học để sau này khi hết chiến tranh mới có  thể giúp ích cho đất nước. Nhưng Hoàng Nhung cũng thấy đó, chiến tranh  mỗi lúc mỗi lan rộng, đời sống người dân thật điêu linh, bạn bè từng  đứa gục ngã trên chiến trường. Anh thấy mình không thể ngồi yên để lấy  nốt văn bằng cử nhân. Rồi một ý nghĩ khác cũng chợt đến. Giả thử chúng  ta thua cuộc chiến này thì với kiến thức đại học kia, liệu có giúp ích  gì cho bản thân hoặc cho đất nước không? Thế là anh quyết định xin với  cấp trên, tình nguyện ra vùng hỏa tuyến. Khởi đầu với chức vụ đại đội  trưởng, sau chín năm tác chiến, cũng do may mắn còn sống sót, anh đã  leo lên tới chức vụ trung đòan trưởng của một trung đòan. Dĩ nhiên với  cuộc sống hiểm nguy nay sống mai chết như thế anh cũng cần có một chỗ  để an ủi tinh thần và anh đã làm đám cưới với một cô gái Miền Trung  lúc còn mang cấp bậc thiếu tá. Hai đứa sống với nhau đã được ba năm và  sinh được một đứa con gái.

Tới đây thì Hoàng Nhung ngắt lời Hoa: 

-Thế chị ấy với cháu bây giờ ở đâu? 

Khẽ nhắm mắt lại để hồi ức, Hoa đau đớn nói: 

-Hai mẹ con di tản chung với gia đình binh sĩ, không rõ bây giờ phiêu  bạt nơi nào và sống chết ra sao.

Sau phút giây yên lặng, Hoàng Nhung lên tiếng:  -Năm đó anh nghĩ gì về Hoàng Nhung mà tại sao anh không ngỏ ý gì cả? 

Nhìn vào đôi mắt của Hoàng Nhung, đôi mắt vẫn đẹp như xưa, Hoa nói:  -Tuổi trẻ thường có những liều lĩnh nhưng tuổi trẻ lại có những ngây  thơ và mâu thuẫn. Nếu như Hoàng Nhung xấu bớt đi một chút tí thì anh  đã có can đảm ngỏ ý rồi. Chính vẻ đẹp của Nhung làm anh đắn đo chùn  bước. Anh cứ sợ nếu Hoàng Nhung trả lời một tiếng “Không” thì giấc mơ  của anh tan vỡ. Thà cứ nuôi một ảo ảnh như thế để được còn sống trong  một giấc mơ đẹp. Hơn thế nữa thời buổi bấy giờ lương của một ông trung  úy không nuôi nổi bản thân huống chi là vợ con. Từ lúc mới lớn anh đã  chứng kiến bao cảnh vợ con nheo nhóc ngòai đời. Phải chăng nghèo mà  lấy nhau là làm khổ nhau, Nhung có thấy như vậy không? 

Nghe nói vậy Hoàng Nhung hiểu được tấm lòng của Hoa, điều đó giải tỏa  được bao nhiêu thắc mắc đã đeo đuổi nàng chín năm trời qua. Giờ đây  tất cả đã vào dĩ vãng nhưng nàng vẫn cứ hỏi như thể hờn trách:  -Nếu vậy những cuộc tình nghèo đều không có hạnh phúc? Anh không nghĩ  rằng người ta có thể hy sinh lẫn cho nhau sao? 

Khẽ nhấp ngụm cà-phê, Hoa cười nói: 

-Theo anh thấy các cuộc tình nghèo chỉ đẹp trong thi ca, phim ảnh và  tiểu thuyết. Anh không bao giờ muốn nhìn thấy Hoàng Nhung phải sống  một cuộc đời bôn ba, vất vả. Đấy là tấm lòng của anh đối với Hoàng Nhung.

Tới đây thì Hoàng Nhung không giấu được nữa, nàng bộc lộ tình cảm sâu  kín của mình: 

-Thế anh không biết rằng chỉ vì anh không muốn người đó vất vả mà anh  đã làm khổ người đó suốt đời sao? 

Nói xong Hoàng Nhung bật khóc tấm tức. Thấy Hòang Nhung khóc, Hoa cũng  chỉ ngồi ngây ra như tượng đá mà không biết phải phản ứng thế nào.

Giây lát sau, như thể đã trấn áp được cơn xúc động, Hoàng Nhung hỏi:  -Bây giờ anh tính sao? 

Hoa ngao ngán đáp:  -Trước tình thế này anh không biết tính sao nữa. Anh nghĩ rằng Miền  Nam trước sau gì rồi cũng mất. Nhưng là một quân nhân, dù tình thế nào  anh cũng phải chiến đấu. Anh mong gặp lại vợ con rồi được tái phối trí  để trở lại mặt trận.

Tới đây giọng Hoa hơi nghẹn lại nhưng sau đó đã trấn tĩnh lại được,  chàng ái ngại hỏi Hoàng Nhung:

 – Còn em, em tính thế nào? Có định di chuyển về Sài Gòn cho an tòan  không? Nhìn em thân gái một mình giữa thời buổi lọan ly như thế này  anh thật không yên tâm tí nào.

Sau một vài giây suy nghĩ Hoàng Nhung đáp: -Em nghĩ chạy đâu rồi cũng thế. Sống ở Sài Gòn nhiều năm em sợ bầu  không khí ngột ngạt của các buổi giới nghiêm. Em đã mua sẵn một bao  gạo, mì gói và một ít đồ hộp, cá khô để dự trữ sẵn trong nhà, ít ra  cũng có thể chịu đựng được cả sáu tháng. Nếu tình hình tệ hơn nữa thì  cũng đành phó thác cho số mệnh

Sau khi Hoàng Nhung nói hết câu này thì Hoa cũng không hỏi gì thêm và  sự yên lặng tràn đến. Rồi sự yên lặng bị phá tan bởi tiếng đại bác đặt  ở sân bay bắn đi để yểm trợ cho mặt trận Bà Rịa – Long Khánh vọng về,  làm rung rinh cả những tấm cửa kính. Lúc này hai người ngồi hòan toàn  bất động, chỉ có làn khói thuốc bay lững lờ trong căn phòng. Ý nghĩ  của Hoàng Hoa như thế nào thì không biết, nhưng riêng Hoàng Nhung, dù  với tình hình nguy ngập của đất nước, sự rối lọan của thành phố với  bao hiểm nguy có thể bất thần đổ tới, và dù với tâm trạng rối bời…sự  hiện diện của ly cà-phê, khói thuốc và bóng dáng của người đàn ông, đã  làm cho căn phòng ấm lại, điều mà bao năm qua nàng vẫn ước mơ, thèm  khát.

** 

Ngày hôm sau, loa phóng thanh của lực lượng an ninh tăng cường từ Sài  Gòn và Quân Trấn Vũng Tàu loan báo: Để bảo đảm an ninh cho thị xã, để  tránh đặc công VC trà trộn, tất cả quân nhân di tản vào từ Miền Trung  phải di chuyển ra Phú Quốc để chịu sự thanh lọc và tái phối trí. Theo  đám tàn quân hỗn độn đó, Hoa xuống tàu ra Phú Quốc và kể từ đó Hoàng Nhung không gặp lại cũng như không nghe nói gì về Hoa nữa.

Sau khi đoàn quân di tản vào từ Mìền Trung đã rút đi, Vũng Tàu tạm yên  được vài ngày rồi mặt trận Long Khánh tan vỡ, thành phố lại tái diễn  cảnh hỗn loạn như trước. Nhưng lúc này thì tình thế hòan toàn vô  phương cứu chữa cho đến ngày 30-4 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng và  cộng sản Bắc Việt chiếm tòan bộ Miền Nam.

Sở dĩ Hoàng Nhung quyết định không xuống tàu để chạy ra Biển Đông vì cha mẹ già vẫn còn ở Sài Gòn, nhà cửa vẫn còn đó. Ngòai ra chính mắt  nàng cũng đã từng chứng kiến cảnh di tản hãi hùng khi người ta giết  nhau để giành sự sống: Lính ở trên bờ bắn vào đoàn tàu khi tàu vừa mới  rời bến vì họ nghĩ rằng bị bỏ rơi. Rồi những chiếc ghe nhỏ bị đẩy ra  hoặc bắn chìm vì tàu lớn đã đầy nhung nhúc những người. Rồi cảnh chồng  vừa leo được lên tàu thì vợ rớt lại. Con chưa kịp trao tay mẹ thì đã  rơi tòm xuống biển. Rồi cảnh cộng quân pháo kích dọc theo bờ biển Vũng  Tàu để ngăn chặn dòng người đang liều chết tiến ra Biển Đông khiến bãi  biển, bến tàu trở thành vùng tử địa.

Ngày đầu khi cộng quân tiến vào Vũng Tàu thì Hoàng Nhung khóc vùi. Khóc để thương cho đất nước và xót xa khi nghĩ tới phận mình. Trưa hôm  đó thân thể, đầu óc nàng đau như rần, rồi tối hôm đó nàng phải uống  vài viên thuốc an thần để được thiếp đi vào một giấc ngủ nặng nề. Mãi  tới chiều ngày hôm sau nàng mới chập chờn tỉnh dậy, vội vã lục hết các  giấy tờ có liên quan đến cơ quan USAID đem ra đốt hết. Rồi sáng hôm  sau nàng hối hả tạm mở cửa nhà hàng để tránh cái cảnh “Đội quân 30- 4”  đeo băng đỏ, hướng dẫn công an, bộ đội tới tịch thu các nhà, các cửa  hiệu đang còn đóng cửa với cái tội “Bỏ chạy theo Đế Quốc Mỹ”. Rồi giữa  trạng thái hoang mang, lo sợ, chán chường tột độ, Hoàng Nhung chợt  thấy rằng đây không phải là lúc ngồi than khóc nữa mà phải chuẩn bị  đối đầu với cuộc sống mới, với chế độ mới, với những con người mới đầy  xa lạ và cũng thật đáng sợ.

Để xem tình hình diễn ra như thế nào và cũng để sống cầm chừng, nàng  cho một số nhân công nghỉ việc, chỉ còn giữ lại những người cần thiết  và chính nàng bây giờ cũng phải vừa làm chủ vừa làm công việc bồi bàn,  tính tiền. Rồi cả cái hình hài của nàng cũng chẳng còn giống như xưa  nữa. Nàng nhờ chị bếp ra ngòai chợ Vũng Tàu mua cho nàng một bộ đồ bà  ba nâu mặc vào cho xấu bớt đi, để hòa mình với khung cảnh mới đầy dép  râu, mũ tai bèo, nón cối, áo bà ba đen, xe đạp và radio transistor hát  inh ỏi trên đường phố.

Mặc dầu có loa kêu gọi của Ủy Ban Quân Quản yêu cầu người dân sớm trở  lại cuộc sống bình thường nhưng phố xá phần lớn vẫn đóng cửa im ỉm. Người dân của thị xã chỉ ra ngòai trong trường hợp thật cần thiết rồi  mau chóng trở lại tụ họp ở nhà, trong hồi hộp, lo âu. Trong những ngày  đầu Quán Hoàng Hoa thật vắng người vì giữa buổi giao thời như thế này  ai còn bụng dạ nào để ăn nhậu, đãi đằng. Nhưng rồi nhà hàng của nàng  mỗi lúc mỗi đông khách mà phần lớn là công an và bộ đội. Hoàng Nhung  ngạc nhiên là tại sao họ lại có nhiều tiền như vậy và tòan là tiền  mới. Có thể đó là tiền phát trước lúc còn ở bưng biền. Song cũng có  thể đó là tiền lấy được từ những xác chết nằm vương vãi trên Tỉnh Lộ  7, trên các phi trường, bến bãi là nơi người ta quăng bừa các va-li,  túi xách để chạy thóat thân.

Đặc điểm của các cán binh cộng sản là gầy  ốm, xanh xao, má hóp, răng hơi hô, ăn uống dữ tợn như người bị bỏ đói  lâu ngày. Họ không mang phù hiệu đơn vị, bảng tên cũng như cấp bậc cho  nên không biết họ là ai. Trong số thực khách có một người mà Hoàng Nhung phải chú ý vì ông ta ở lại rất lâu sau bữa cơm chiều. Ông ta  khỏang ngoài bốn mươi tuổi, có đôi môi mỏng lúc nào cũng bĩu ra như  thể đang căm ghét hay bất mãn chuyện gì. Tóc húi cao, mắt đanh ác,  răng hơi vẩu làm cho ông ta mang dáng vẻ của một người đầy thủ đoạn và  đáng sợ. Sở dĩ Hoàng Nhung đóan ông ta là tay tổ của ngành công an vì  ông ta đội nón cối nhưng lại mặc áo sơ-mi trắng, tay có đeo đồng hồ. Ông ta đi xe Molotova lúc nào cũng có hai vệ sĩ đi kèm.

Bây giờ mới khỏang sáu giờ chiều, Hoàng Nhung đang loay hoay ở quầy để  kiểm điểm lại tiền nong thì ông ta bước tới, lên tiếng:  -Chào cô.

Hòang Nhung ngửng đầu lên. Khi nhận ra ông ta, nàng vội vã đáp:  -Không dám, chào ông.

-Ấy chết, tại sao lại gọi tôi bằng ông? Tiếng “Ông” nghe có vẻ Thực  Dân Phong Kiến lắm. Bây giờ “giải phóng “rồi, mọi người đều bình đẳng,  cứ gọi tôi là Anh Tư…Anh Tư Sang là được rồi.

Hoàng Nhung hơi ngạc nhiên về lý luận của ông ta. Nàng lên tiếng như  để giải thích: 

-Chữ “Ông” đâu có gì Thực Dân Phong Kiến. Nó chỉ là tiếng nói thông  thường và lịch sự để xưng hô với một người đàn ông thôi.

Nghe nói vậy ông ta nghiêm nét mặt nói: 

-Đấy! Người dân sống trong “Vùng Bị Tạm Chiếm” lâu ngày tư tưởng lệch  lạc lúc nào không hay. Đã nói bây giờ người dân được làm chủ tập thể  rồi …làm gì còn “ông” với “con”nữa! 

Hòang Nhung mở tròn đôi mắt trước vẻ nghiêm nghị một cách tức cười của  ông ta. Nhưng tự nhiên nàng linh cảm thấy nếu còn giải thích lằng  nhằng thêm nữa chỉ làm phật ý “cách mạng” và rắc rối to, cho nên nàng  cố im lặng, tiếp tục thu xếp lại tiền bạc. Trong lúc Hoàng Nhung lo  đếm tiền, ông ta vói tay lấy tập hóa đơn tính tiền, lật tới lật lui  rồi đưa mắt ngắm nghía Hoàng Nhung từ đầu đến chân, rồi gật gù hỏi: 

-Thế cô quản lý nhà hàng này bao lâu rồi? 

Hòang Nhung có vẻ bỡ ngỡ trước danh từ “quản lý” của ông ta nhưng cũng  ngửng đầu lên đáp:  -Tôi mở nhà hàng này đã hai năm rồi.

Tư Sang lại hỏi tiếp: 

-Thế cô có biết gì về chính sách cải tạo công thương nghiệp của Cách Mạng đối với “Vùng Mới Giải Phóng” không? 

Hoàng Nhung thành thực đáp: 

-Không

Mặt vênh vênh nhìn hếch lên trời, mỗi bĩu ra, ông ta nói như một nhà  thuyết giáo: 

-Cửa hàng này là điển hình của lối làm ăn cá thể, manh múm. Muốn xây  dựng Xã Hội Chủ Nghĩa thì phải theo phương thức “làm ăn lớn xã hội chủ  nghĩa”. Rồi đây tất cả sẽ phải vào hợp tác xã hết.

Nghe tới ba chữ “hợp tác xã” thì Hoàng Nhung giật thót mình. Nhưng vì muốn tìm hiểu thêm cho nên nàng hỏi: 

-Hợp tác xã là gì? Có phải là hùn vốn để làm ăn không? 

-Hợp tác xã có nghĩa là người dân làm chủ tập thể, nhà nước quản lý. Tất cả tài sản này là của nhân dân, phải trả về cho nhân dân.

Nghe nói vậy Hoàng Nhung lo lắng hỏi tiếp: 

-Thế tôi còn được làm chủ nhà hàng này nữa không? 

Bằng một cử chỉ rất thân mật, ông ta vỗ vai Hoàng Nhung nói như thể trấn an: 

-Đừng có lo. Đảng và Nhà Nước ta lúc nào cũng sáng suốt cả. Nếu cô có  lý lịch tốt. Nếu như công nhân cũ của cửa hàng này đồng ý bình bầu thì  cô có thể ở lại phục vụ như một công nhân. Bây giờ công nhân là giai  cấp cao quý, còn chủ nhân là giai cấp bóc lột, xấu xa lắm! 

Đối với Hoàng Nhung lời nói của ông ta như tiếng sét nổ ngang tai. Mồ  hôi trong người nàng rịn ra. Nàng run run nói: 

-Như thế có nghĩa là tôi phải hiến cái nhà này cho “Cách Mạng” rồi nạp  đơn xin được làm công nhân, có phải vậy không?  Lại nhếch mép cười, Tư Sang nói 

-Ấy chết! Nhà Nước đâu có lấy của ai…mà chỉ là…vào hợp tác xã thôi

Rồi đây Phường, Khóm sẽ có lệnh thi hành chỉ thị của Đảng và Nhà Nước

Cùng với câu nói đó, ông ta một lần nữa lại thân mật vỗ vai Hoàng  Nhung rồi quay trở lại chiếc bàn ăn, xách chiếc cặp, cùng hai người  cận vệ bước ra ngòai xe

** * 

Ngày hôm sau, Hoàng Nhung nhận được giấy báo của Ủy Ban Nhân Dân Cách  Mạng Thắng Nhứt cho hay tuần tới phải lên Phường để “học tập” về chính  sách hợp tác hóa. Cầm tờ giấy báo trên tay, Hoàng Nhung choáng váng cả  mặt mày. Nàng nghĩ tới lời nói của Tư Sang hôm qua, rồi đưa mắt ngắm  nhìn Quán Hòang Hoa, nơi mà nàng đã tự tay xây dựng, điểm tô và gắn bó  với nó hơn hai năm trời, rồi nàng gục xuống bàn, bật khóc. Chiều hôm  đó nàng ra lệnh cho nhân viên tạm nghỉ ít ngày vì tự nhiên đầu nàng  nhức như búa bổ và nàng cũng chẳng còn tâm trí nào để điều khiển nhà  hàng nữa. Vả lại từ ngày “Cách Mạng” về mọi thứ đều do nhà nước quản  lý cho nên thịt, cá, rau cỏ trở nên khan hiếm. Nếu mua chợ đen thì giá  rất cao cho nên nhà hàng có mở cửa cũng chỉ thua lỗ. Lợi dụng mấy ngày  đóng cửa, Hoàng Nhung lục lọi lại mấy băng nhạc cũ, mở thật nhỏ vừa đủ  nghe để đầu óc bớt căng thẳng. Nhưng trong lòng đang buồn rười rượi  cho nên nhạc cũng chẳng giải khuây được cho nàng. Còn đang chập chờn  với mấy bản nhạc thì có tiếng gõ cửa ở bên ngòai. Tắt vội chiếc  cassette radio, Hoàng Nhung hối hả ra mở cửa. Trước sự ngạc nhiên của  nàng, người đang đứng chình ình ở đó không ai khác hơn Tư Sang

Vẫn chiếc quần bộ đội màu cứt ngựa truyền thống, hôm nay Tư Sang trông  bảnh bao hơn một chút nhờ chiếc áo sơ-mi màu cháo lòng của Miền Bắc đã  được thay bằng vải Tetoron trắng của Miền Nam. Nhưng cặp kính râm tròn  đen ngòm làm cho y trông giống hệt ông thầy bói mù ngồi ở cổng Lăng  Ông Bà Chiểu. Có khác chăng là ông thầy bói này lại đội nón cối, sao  vàng. Nhìn thấy y, Hoàng Nhung vừa bực mình vừa tức cười. Nàng sẵng  giọng nói: 

-Ông tìm ai? 

Tư Sang nhe răng cười đáp: 

-Đến tìm bà chủ Quán Hoàng Hoa, người đẹp nhất Vũng Tàu

Nghe y nói thế Hoàng Nhung đỏ cả mặt, muốn xáng cho y một bạt tai  nhưng nàng cố dằn lại: 

-Ở đây không có người đẹp nhất Vũng Tàu mà chỉ có người khổ nhất Vũng Tàu! 

Làm ngơ trước lời nói móc của Hoàng Nhung, y gỡ cặp kính râm xuống,  vừa lau vừa nói: 

-Hôm nay tôi đến đây không phải là khách ăn của Quán Hoàng Hoa mà là  đại diện của chính quyền cách mạng

Hoàng Nhung lạnh lùng nói:  -Cũng vậy thôi

Tư Sang cười nói:  -Không phải vậy đâu

Nói xong y quay lựng lại, lấy tay ngoắc. Từ phía bên kia đường, một gã  vệ sĩ hối hả lấy chiếc cặp da để trong chiếc xe Molotova, chạy băng  ngang đường và lễ phép trao chiếc cặp cho y. Khẽ kéo chiếc khóa vải,  lấy tay chỉ vào xấp giấy bên trong, Tư Sang nói: 

-Theo tin tình báo nhân dân thì căn nhà này có liên hệ tới Đế Quốc Mỹ. Theo quy định của chính quyền cách mạng thì tất cả sẽ bị tịch thu để  trả lại cho nhân dân.

Nghe y nói thế Hoàng Nhung điếng cả người. Nhưng bản năng sinh tồn  trỗi dậy, nàng phản ứng: 

-Căn nhà này là do mồ hôi nước mắt của tôi! Các ông thử vào bên trong  xem có người Mỹ nào sống ở đây không? Các ông định tịch thu nhà của  tôi phải không? 

Nói xong nước mắt nàng rươm rướm. Lặng lẽ xách chiếc cặp lên, tra kính  vào mắt, Tư Sang lạnh lùng nói:

 -Cái đó thì tùy cô. Tôi sẽ còn đến đây “làm việc” với cô nhiều lần nữa. Chào cô.

Khi Tư Sang đi được vài bước thì bao nhiêu uất ức trong người Hoàng  Nhung trào dâng. Liên tưởng tới cái cảnh bị đuổi khỏi căn nhà này  Hoàng Nhung bỗng thấy tủi thân và nàng gục mặt vào cánh cửa khóc như  một đứa trẻ.

Ngày hôm sau và những ngày tiếp theo đó Tư Sang lại đến. Nhưng lần này  y tự nhiên bước vào nhà, ngồi chễm trệ ở phòng khách. Cũng có lần y  đem tới một vài kilô đường, kem đánh răng, vài bánh xà-phòng nhưng  Hoàng Nhung vẫn quăng ở một góc mà chẳng ngó ngàng tới. Viễn ảnh Quán  Hoàng Hoa và căn đang ở bị tịch thu làm cho nàng trở nên gần như quẫn  trí. Nàng bỏ ăn, bỏ ngủ, đầu tóc rối bù, mặt hốc hác như người bệnh  nặng. Rất may trong một phút giây tỉnh táo, mặc dù không nặng đầu óc  tôn giáo, nhưng để tìm chút an ủi, nàng ra chợ mua một bó hoa sen, một  ít trái cây đem tới Chùa Linh Sơn. Sau khi lễ Phật xong, nàng cảm thấy  có đôi chút bình an và quyết định lái xe ra Bãi Dứa.

Chiều hôm nay Bãi Dứa thật vắng người. Nắng đã khuất ở rặng núi phía  sau nhưng mặt biển vẫn còn sáng. Một vài con tàu Liên-Xô, Trung Quốc,  Bắc Hàn bỏ neo ở phía xa xa. Hoàng Nhung bước lần theo bãi cát để tiến  tới một tảng đá bằng phẳng là nơi cách đây hơn hai năm, những lần ăn  cơm chiều xong, Hoàng Nhung và Jimmy thường tới đây để trò chuyện và  lấy tay chỉ ra ngòai xa. Ngọn gió chiều hất tung mái tóc nàng ra phía  sau để lộ chiếc cổ trắng ngần và khuôn mặt thanh tú nay đã tiều tụy và  hốc hác đi nhiều. Hoàng Nhung cứ ngồi yên như thế cho đến khi nắng  chiều nhạt dần, rồi chuyển sang màu tím thẫm rồi màn đêm buông xuống  tự bao giờ. Khi ngụp lặn trong hạnh phúc thì đầu óc người ta lâng lâng  quên đi thực tại. Nhưng khi chìm đắm trong khổ đau thì bao nhiêu ký ức  cứ lồng lộng hiện về. Giờ đây khung trời trước mặt nàng tự nhiên biến  thành một màn ảnh khổng lồ và hình ảnh của ba người đàn ông được trình  chiếu trên đó: 

-Jimmy, một người dị chủng, đang bị những người đương thời gán cho cái  tên “quân xâm lược Mỹ” lại không tỏ ra cái gì gọi là xâm lược cả.

Jimmy luôn luôn giữ được tác phong của con người có tư cách và chưa  bao giờ tìm cách chiếm đọat thân xác nàng. Dù biết rằng khi đã rời xa  Việt Nam thì tất cả chỉ là ảo ảnh, thế mà Jimmy vẫn còn đầy đủ tha  thiết và tình người nói “ … vào một lúc nào đó…nếu quê hương này là  quê hương bất hạnh thì em hãy nhớ rằng lúc nào anh cũng dang rộng cánh  tay để chờ đón em.” Đối với Hoàng Nhung thì vào giờ phút này đây Jimmy  là con người chân tình, hào hiệp. Jimmy thật sự yêu nàng. Và khi yêu  nàng, Jimmy yêu cả quê hương khốn khổ này nhưng Jimmy chẳng nhận được  sự đền đáp nào cả. Jimmy là người thua thiệt.

-Còn Lê Hoàng Hoa? Anh đã chấp nhận ra đi. Chấp nhận dứt bỏ người mà  anh thương mến chỉ vì anh không muốn người đó khổ. Yêu là đem lại hạnh  phúc cho nhau hay yêu là làm khổ nhau? Nhưng theo Hoàng Nhung, anh đã  biện minh cho sự mâu thuẫn của mình qua câu nói “Theo anh thấy các  cuộc tình nghèo chỉ đẹp trong thi ca, phim ảnh và tiểu thuyết.” Dầu  sao đi nữa suốt đời Hoàng Nhung vẫn không sao quên được Hoa, một con  người có lý tưởng. Dù trong hòan cảnh tuyệt vọng và bi thương như thế,  anh vẫn còn can đảm thốt lến “Anh mong gặp lại vợ con rồi được tái  phối trí để trở lại mặt trận.” Và dù mạng sống của anh mai đây không  biết sẽ như thế nào, anh vẫn còn để tâm lo lắng cho Hoàng Nhung “Nhìn  em thân gái một mình giữa thời buổi lọan ly như thế này anh thật không  yên tâm tí nào.”

Nghĩ đến đây Hoàng Nhung không nén được tiếng thở  dài. Nàng ngước nhìn lên, nhìn chăm chú vào hai ngôi sao nhỏ bé nằm xa  tít ở cuối nẻo chân trời. Hai ngôi sao dù ở khoảng xa vô tận như thế  chúng nó vẫn cứ nhấp nháy vào tỏa ra một thứ ánh sáng thật diệu kỳ.

Nàng có cảm tưởng đó là đôi mắt của Lê Hoàng Hoa đang rưng rưng lệ khi  anh nghĩ tới đất nước, gia đình và cả cuộc đời của Hoàng Nhung nữa.

Rồi đôi mắt đó cứ lùi xa, lùi xa rồi nó vụt tắt trên bầu trời để rồi  hình ảnh một người đàn ông thứ ba hiện lên, đó là…  – Tư Sang – một Thượng Tá Công An Việt Cộng. Một con người dễ sợ,  miệng nói ra tòan danh từ đao to búa lớn như: Đạo Đức Cách Mạng, Giải  Phóng Phụ Nữ, Đỉnh Cao Trí Tuệ, Khoan Hồng Nhân Đạo, San Bằng Bất Công  Xã Hội…nhưng lại đang tìm đủ mọi cách để chiếm đọat tài sản và thân  xác nàng. Là người “giải phóng” thay vì tìm cách nâng đỡ, chở che cho  “người được giải phóng”, ông ta lại tìm cách tước đọat tài sản của  người mà ông ta nói rằng ông ta đã phải hy sinh cả cuộc đời để đấu  tranh cho họ. Mấy lúc sau này ông ta chẳng còn giấu diếm gì nữa mà  buông lời sỗ sàng, gạ gẫm “Lấy tôi thì cô còn giữ được ngôi nhà này..”  và lời đe dọa “ Nếu không thì…cái gì…cô cũng biết rồi đó..”

Có lúc  Hoàng Nhung phẫn uất tự hỏi: Ngôi nhà này là của nàng tại sao nàng  phải lấy hắn để được ở lại? Phải chăng đây là đặc quyền của kẻ chiến  thắng? Nhưng càng lý luận Hoàng Nhung càng thấy mệt mỏi rã rời. Trong  đời, chưa bao giờ nàng thấy cô đơn và tuyệt vọng như bây giờ. Nhìn ra  ngòai xã hội, không một nơi chốn nào có thể giúp nàng. Không một tờ  báo nào có thể nói lên nỗi oan ức của nàng. Không một tòa án, một luật  sư nào có thể bảo vệ nàng. Không một cơ quan chính quyền nào để nàng  có thể giãi bày khúc nôi. Giả sử nếu có một cơ quan như vậy thì nàng  cũng sẽ phải đối đầu với một thứ “Tư Sang” còn tệ hại hơn cả Tư Sang  này. Nghĩ tới viễn ảnh phải làm vợ Tư Sang nàng bỗng rùng mình và thân  thể nổi cả gai ốc. Trên nền trời, hình ảnh của Tư Sang mới đầu còn  nhỏ, sau cứ mỗi lúc mỗi lớn dần rồi nó trở thành một con quái vật  khổng lồ đen ngòm chụp lên đầu nàng khiến Hoàng Nhung kinh hãi thét  lên: 

-Không! Không! Tôi không lấy ông đâu! 

Tiếng thét đã kéo Hoàng Nhung ra khỏi cơn ác mộng. Con quái vật vừa đổ  chụp lên đầu Hoàng Nhung thật ra chỉ là một đám mây đen bay lơ lửng  trên đầu làm che khuất mảnh trăng hình lưỡi liềm và làm cho bầu trời  tự dựng tối xầm lại. Khẽ vuốt mặt cho tỉnh táo trở lại và một quyết  định táo bạo không biết từ đâu chợt đến. Ngày mai đây nàng sẽ bỏ về  Sài Gòn. Nàng sẽ gửi cha mẹ tất cả số tiền còn lại và chỉ còn giữ một  số cần thiết để vượt biên. Nàng nhất quyết phải ra đi, nhất quyết giã  từ cái địa ngục bao la này để tiến ra ngòai biển cả kia với bao hiểm  nguy mà nàng đã chứng kiến. Nàng sẽ để lại Quán Hòang Hoa và căn nhà  này cho cộng sản, cho Tư Sang hay cho bất kỳ một cán binh nào đó…để  tìm một chút tình người mà nàng không thể tìm thấy trong xã hội này.

Quyết định được như thế, Hoàng Nhung cảm thấy nhẹ nhõm và bao tự tin  lúc trước lại trở về. Giờ đây Bãi Dứa của Vũng Tàu hòan tòan vắng vẻ,  chỉ có tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng sự im vắng đột nhiên bị phá tan bởi  một đám bộ đội Hải Quân Việt Cộng đi lang thang trên bãi biển, vừa đi  vừa nói chụyện lao xao. Thấy nàng ngồi một mình, tưởng đó là “gái ăn  sương” chúng lên tiếng trêu ghẹo: 

-Này người em gái, muốn “liên hệ tình cảm”với các anh không thì bảo? 

Nói xong chúng cất tiếng cười hô hố. Lấy tay bịt hai lỗ tai lại, Hoàng  Nhung vội vã đứng dậy, leo lên phía con dốc để tiến ra bãi đậu xe

Giờ đây sương bắt đầu xuống nặng. Từ ngòai khơi những cơn gió bỗng  lồng lộng thổi về và trùng dương bắt đầu thấm lạnh làm Hoàng Nhung khẽ  co người lại và hai tay ôm chặt lấy thân hình trước ngực. Và bóng dáng  cô đơn, nhỏ bé của nàng khuất vào màn tối mênh mông khi nàng tiến dần  ra phía con đường cái.

Đào Văn Bình
(Trích trong tuyển tập truyện ngắn Hương Xót Xa xb năm 1998)

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

MỚI CẬP NHẬT

spot_img