Wednesday, June 17, 2026

Tiến độ mở lại eo biển Hormuz nguy cơ chậm trễ do phải rà quét thủy lôi của Iran

CaliToday News – Hệ thống thủy lôi bị rải tại eo biển Hormuz trong cuộc xung đột với Iran đang trở thành rào cản lớn, làm dập tắt kỳ vọng về việc nhanh chóng khôi phục hoạt động vận tải biển bình thường theo bản ghi nhớ dự kiến ký kết vào tuần này.

Hôm thứ Hai, Tổng thống Trump cho biết quân đội Mỹ đã bắt đầu “tiến hành săn lùng một vài quả thủy lôi”. Ước tính Iran sở hữu khoảng 5.000 quả thủy lôi và có thể đã thả chúng xuống các vùng nước trong và xung quanh eo biển này sau khi xung đột bùng phát vào cuối tháng 2.

Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định một chiến dịch như vậy — đòi hỏi phải sử dụng tàu quét mìn truyền thống, thiết bị lặn không người lái (UAV dưới nước) và nhiều khả năng cần sự hỗ trợ từ các đồng minh — có thể mất nhiều tháng mới hoàn thành. Các hãng vận tải biển cũng sẽ từ chối đi qua khu vực này cho đến khi nhận được những bảo đảm tuyệt đối an toàn.

“Thủy lôi là mối nguy khó lường, rất khó phát hiện và tạo ra tâm lý sợ hãi vượt xa các loại vũ khí khác. Chúng có thể gây hại bất ngờ nếu được rải đúng nơi, đúng thời điểm… Tôi nghĩ sẽ phải mất một thời gian để giải quyết triệt để vấn đề này.”

Ông Steven Wills, chuyên gia nghiên cứu hải quân thuộc Trung tâm Chiến lược Hàng hải (Liên minh Hải quân Mỹ).

Ông Wills cho biết có thể có từ vài chục đến hàng trăm quả thủy lôi đã được thả ở vùng biển này. Chủng loại của chúng rất đa dạng, từ loại thả nổi ngay dưới mặt nước cho đến loại đặt dưới đáy biển và kích nổ bằng cảm biến.

Cá nhân ông dự đoán số lượng thực tế sẽ nghiêng về mức thấp hơn, do thủy lôi được rải bằng các xuồng nhỏ thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), và mỗi xuồng chỉ có thể chở từ một đến hai quả. Ông nói: “Tôi không nghĩ họ đã rải một số lượng khổng lồ, nhưng rất khó để khẳng định chắc chắn cho đến khi chúng ta cử lực lượng vào cuộc, bắt đầu tìm kiếm và đưa ra các báo cáo thực địa.”

Đồng tình với quan điểm trên, ông Bryan Clark, chuyên gia về các chiến dịch hải quân tại Viện Hudson, cũng nhận định phía Iran chỉ rải “khoảng vài chục quả thủy lôi” trong suốt cuộc chiến, chủ yếu vào giai đoạn đầu trước khi Mỹ nhanh chóng tổ chức tấn công mọi tàu thuyền có dấu hiệu khả nghi.

Dẫu vậy, ngay cả một vài quả “bom nổi” này cũng là quá đủ để răn đe các tàu bè qua lại eo biển, bởi vì “bạn hoàn toàn có thể tạo ra tâm lý hoang mang về một bãi thủy lôi dày đặc. Dù ở quy mô nhỏ, nó vẫn đạt được mục đích răn đe”, ông Clark chia sẻ với The Hill.

Chuyên gia này dự đoán sẽ phải mất từ một đến hai tuần chỉ để xác định vị trí của tất cả các bãi thủy lôi, sau đó là vài tháng nỗ lực tập trung để tháo dỡ và dọn dẹp chúng trước khi hoạt động vận tải có thể trở lại bình thường.

Phản ứng quyết liệt từ phía Mỹ

Mặc dù chưa rõ chính xác số lượng thủy lôi xung quanh eo biển Hormuz, giới chức Mỹ cho biết Iran đã rải vài chục quả tại tuyến hàng hải huyết mạch này vào đầu tháng 3, ngay khi xung đột vừa nổ ra.

Hành động này đã kích hoạt đòn đáp trả từ phía Mỹ. Vào ngày 10/3, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth tuyên bố Tổng thống Trump đã chỉ thị cho các lực lượng Mỹ tiêu diệt các tàu rải mìn của Iran trong khu vực, “xóa sổ chúng với độ chính xác tàn khốc”.

Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ (CENTCOM) sau đó thông báo đã tấn công 16 xuồng rải mìn của Iran trong khu vực, song chưa rõ các cuộc không kích này đã làm tê liệt hoàn toàn năng lực của Tehran hay chưa.

Hiện tại, với một thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz dự kiến được Washington và Tehran ký kết vào thứ Sáu, Hải quân Mỹ có thể sẽ sớm bắt tay vào quét mìn để giải tỏa mối lo ngại cho các tập đoàn vận tải biển.

Quy trình rà quét phức tạp và tốn kém

Theo ông Wills, bước đầu tiên là “săn mìn”: sử dụng tàu hoặc thiết bị không người lái để tìm ra một lộ trình an toàn cho tàu thuyền di chuyển qua mà không chạm phải thủy lôi. Ông ví quy trình này giống như việc làm vườn.

“Nếu bạn muốn đi băng qua vườn mà không giẫm phải cỏ dại, bạn vừa đi vừa nhổ những ngọn cỏ ngay trước mặt và ném sang một bên, cho đến khi tạo được một lối đi sạch sẽ để bước qua”, ông giải thích. “Do đó, quân đội sẽ dùng tàu, thiết bị kéo bằng trực thăng, hoặc thiết bị lặn không người lái để thiết lập bản đồ định tuyến.”

Chuyên gia Clark cũng cho rằng cách dễ nhất để khôi phục quyền tiếp cận là tìm ra một làn đường sạch bóng thủy lôi, tạm thời né tránh các khu vực nguy hiểm cho đến khi chúng được thu hồi hoàn toàn sau đó.

Ngược lại, “quét mìn” thường được thực hiện sau khi xung đột kết thúc và quy trình này giống như việc “cắt cỏ hàng loạt”.

Trong kịch bản đó, một phương tiện mặt nước không người lái sẽ kéo theo thiết bị quét mìn kích nổ để kích hoạt các loại thủy lôi từ tính và thủy lôi âm thanh bằng cách phóng năng lượng điện từ vào nước, ép chúng phải tự nổ.

Ngoài ra còn có phương pháp truyền thống: các lực lượng sẽ triển khai tàu quét mìn chuyên dụng, thả hai lưới cáp lớn có trang bị thiết bị tạo hiệu ứng âm thanh và móc gài để giữ chặt và kéo thủy lôi lên mặt nước. Tại đây, đội xử lý bom mìn (EOD) sẽ tiếp quản xử lý — “đây là một quy trình vô cùng hỗn loạn và dĩ nhiên là cực kỳ nguy hiểm”, ông Wills cho biết.

Toàn bộ quá trình này có thể kéo dài nhiều tháng trước khi các công ty bảo hiểm, hãng vận tải hoặc các tập đoàn dầu khí tin tưởng rằng eo biển đã an toàn để thông thương. Điều này có nguy cơ làm tắc nghẽn hàng chục triệu thùng dầu vốn thường xuyên đi qua tuyến hàng hải này trong thời bình.

Bài học từ quá khứ

Nhìn lại lịch sử, trong các chiến dịch dọn dẹp sau Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, Mỹ và các nước đồng minh đã phải mất tới gần 7 tháng để rà quét hàng trăm quả thủy lôi mà Tổng thống Iraq khi đó là Saddam Hussein ra lệnh rải quanh vùng biển thành phố Kuwait.

Ngay cả với những tiến bộ công nghệ hiện nay, các chủng loại thủy lôi khác nhau mà Iran sở hữu có thể khiến việc tìm kiếm trở nên vô cùng gian nan. Tehran có thể sử dụng loại thủy lôi có gai thả nổi — vốn đã được dùng từ thời Chiến tranh Thế giới thứ nhất — hoặc các loại vũ khí hiện đại hơn nằm phục dưới đáy biển sâu và cực kỳ khó định vị.

“Khi thả chúng xuống đáy, chúng trông không khác gì một hòn đá hay một mảnh vỡ phế liệu, vì vậy bạn phải săn lùng rất cẩn thận bằng nhiều loại cảm biến khác nhau”, ông Wills nói. Thậm chí đã có những thảo luận về loại thủy lôi có khả năng tự di chuyển và thay đổi vị trí, điều mà ông Wills gọi là “đặc biệt đáng sợ”.

Trong mọi trường hợp, “đây là một quá trình tốn nhiều thời gian”. Các doanh nghiệp chắc chắn sẽ yêu cầu một báo cáo chính thức từ Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ để đảm bảo rằng các lực lượng đã kiểm soát hoàn toàn mối đe dọa này.

Ông Clark bổ sung rằng Hải quân Mỹ sẽ cần chia sẻ kết quả rà quét với các công ty, đồng thời chứng minh các làn đường đã thông thoáng bằng cách cho tàu chiến của chính mình đi trước dẫn đường, các tàu thương mại nối đuôi theo sau. “Đó là cách duy nhất phải làm, nếu không họ sẽ không có đủ tự tin rằng lộ trình này đủ an toàn để di chuyển”, ông nhấn mạnh.

Ông ước tính chi phí cho một chiến dịch như vậy sẽ tiêu tốn “hàng chục triệu” USD chỉ riêng cho chi phí vận hành, bao gồm “nhiên liệu, phụ cấp tăng ca cho binh sĩ, linh kiện thay thế sửa chữa, và tất cả những chi phí phát sinh cho một chiến dịch nằm ngoài kế hoạch ngân sách ban đầu.”

Nguồn Tổng hợp

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

MỚI CẬP NHẬT

spot_img