Monday, March 16, 2026

Câu chuyện Giáo Dục: Hiện Tượng Xuất Não Mới

  • Trong nhiều thập niên qua, Hoa Kỳ là vùng đất hứa, lôi cuốn, thu hút rất nhiều khoa học gia tài ba lỗi lạc trên khắp thế giới. Nhưng hiện tượng đó ngày nay không còn nữa, trái lại, đã đổi hẳn theo chiều hướng ngược lại. Những khoa học gia tài giỏi bỏ nước Mỹ sang Âu châu, sang nước Áo- Austria- vì ở đây họ có phương tiện thi thố tài năng, và được đãi ngộ xứng đáng.

Mọi việc bắt đầu từ một hứa sẽ làm đủ mọi cách để giúp nhân tài

Nhà sinh vật học người Pháp, bà Gabriela Lobinska rất thích chương trình đào tạo Tiến Sĩ Sinh Vật mà bà được cấp cho. Bà tập trung vào việc nghiên cứu cơ cấu sinh vật thay đổi ra sao. Từ Pháp đến trường Y Khoa Harvard hồi tháng Chín năm 2024, bà Lobinska hy vọng mọi sinh hoạt sẽ tiếp tục như trước. Bà dự tính sẽ nghiên cứu về quá trình sinh trưởng của tế bào, chúng biến đổi ra sao để từ một tế bào lành mạnh sang tế bào phát sinh ra bệnh.

Một thời gian ngắn sau khi bà Lobinska đến trường Harvard thì ông Donald Trump đắc cử Tổng thống, từ đó mọi việc trở thành tồi tệ. Số tiền lương bà được hưởng từ học bổng cấp cho bà bị cắt- hàng ngàn sinh viên khác cũng lâm vào tình trạng tương tự. Hồi tháng Tư, Bạch Cung đưa ra đề nghị cắt giảm 40% ngân sách tài trợ cho Viện Nghiên Cứu Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ- US National Institute of Health, NIH- Đây là ngân khoản tài trợ lớn nhất của chính phủ cho ngành nghiên cứu “biomedical” của nước Mỹ. Sau đó, chính phủ còn rút lại quyền cấp visa của trường Harvard cho những nghiên cứu sinh như bà Lobinska. Trong lúc tòa án  tạm thời cho phép trường Harvard bảo trợ visa cho nghiên cứu sinh, bà Lobinska thường bị nhân viên di trú chất. Họ hỏi vì sao bà lại phải sang Hoa Kỳ để học thêm. Bà trả lời: “Vì ở đây tôi có thể nghiên cứu khoa học. Nơi nào cung cấp cho tôi phương tiện nghiên cứu thì tôi đến.”.

Ít lâu sau bà Lobinska được nhận việc làm mới ở viện nghiên cứu AITHYRA của nước Áo. Đây là viện nghiên cứu chuyên về ngành  Biomedical và AI – Sinh học trong Y khoa và Trí Tuệ Nhân tạo ở thủ đô Vienna, nước Áo. Và bà cũng còn nghe nói đến một chương trình cấp học bổng mới tên là APART-USA dành cho những nghiên cứu sinh từ nước Mỹ ra đi, đặc biệt là những nghiên cứu sinh từ các viện nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Họ cấp học bổng rất tốt để sinh viên dùng trong suốt bốn năm. Bà nộp đơn xin học bổng, và được chấp thuận. 

Bây giờ bà Lobinska đang sống ở thành phố mà trong Thế Chiến Thứ Nhất và thứ Hai bị tàn phá tan nát, song cũng tại đây, nhiều khoa học gia khai sinh ra việc phân loại các loại máu, ánh sáng vũ trụ được phát minh, phân tích, và ngành phân tâm học được chào đời. Giống như bối cảnh của sinh hoạt nghiên cứu khoa học của thời kỳ 1910, sinh hoạt hết sức sôi nổi, với sự thành hình Phòng Thí Nghiệm Art Nouveau Observatory bên dòng sông Danube. Thuở bấy giờ, nơi đây là trung tâm của những phát minh khoa học mới nhờ ở vị trí địa chính trị tốt,không bị ảnh hưởng của chiến tranh. 

Bà Lobinska chính là mẫu khoa học gia mà ông Heinz Fassmann, Chủ tịch Viện Nghiên Cứu Khoa Học Áo Quốc muốn lôi kéo vào làm nghiên cứu sinh qua chương trình APART-USA. Ông nhận ra sự bất ổn trong chương trình giáo dục cao ở Hoa Kỳ. Tuy rằng ông cảm thấy buồn cho ngành nghiên cứu khoa học nói chung, song ông cũng nhận thấy đây là cơ hội tốt để ông có thể khôi phục lại những ngày vinh quang về khoa học của nước Áo xưa kia. Ông nói nếu Hoa Kỳ tiếp tục cắt giảm ngân sách, chúng tôi sẽ hốt tất cả những con người tài ba, xuất chúng. Tính đến tháng Chín năm 2025, Viện Nghiên Cứu của ông đã tiếp nhận 25 ứng viên từ Hoa Kỳ sang, trong đó có bà Lobinska. 

Chương trình cấp học bổng APART-USA không phải là nơi duy nhất lôi cuốn nhân tài từ nước Mỹ ra đi. Theo tạp chí Nature một tạp chí hàng đầu chuyên về khoa học cho biết kể từ tháng Tư năm 2025, số khoa học gia từ Hoa Kỳ nộp đơn xin làm việc ở ngoại quốc tăng 32% so với cùng thời kỳ của năm 2024. Riêng trong tháng Ba năm 2025, khi chính quyền Mỹ tăng nhanh mức độ cắt giảm ngân sách về nghiên cứu khoa học, số ứng viên nộp đơn đi làm ở ngoại quốc tăng vọt lên 68% so với tháng trước. 

Tình trạng bỏ nước Mỹ ra đi tiếp tục xảy ra. Hồi tháng Năm 2025, ở Liên Âu có chương trình gọi là “Choose Europe” với khoản ngân sách hùng hậu 500 triệu đồng Euro, lập ra để thu hút các nhà nghiên cứu quốc tế. Hồi tháng Tư, ông Chủ tịch Hiệp Hội Max Planck Society của nước Đức công bố một chương trình mới tên là Max Planck TransAtlantic Program được lập ra để thu hút các nhà nghiên cứu bỏ Hoa Kỳ sang Âu châu làm việc. Chính phủ Pháp cũng lập ra một chương trình thu hút nhân tài quốc tế với ngân sách 100 triệu euros. 

Theo nhận xét của ông Fassman: “ Hoa Kỳ đã tận dụng khai thác nhiều lợi ích của các đợt di dân từ Âu châu sang Mỹ sau Thế Chiến thứ Hai. Bây giờ, lần đầu tiên, chúng ta mới có được sự thay đổi chiều hướng của di dân. Theo đó, Âu châu sẽ được hưởng lợi của những tài năng xuất chúng được giáo dục ở Hoa Kỳ.”.

Xét qua dòng lịch sử, không phải lúc nào Hoa Kỳ cũng là nam châm thu hút các khoa học gia. Nhà nghiên cứu chính trị Âu châu Alexis de Tocqueville trong tác phẩm nổi tiếng Democracy in America xuất bản năm 1840 từng viết rằng: “Rất hiếm có người nào ở Hoa Kỳ chịu bỏ công sức ra nghiên cứu những vấn đề lý thuyết, hay trừu tượng của con người.”. Vào cuối thế kỷ thứ 19, nước Đức dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Hiện tượng này diễn ra trong một thời gian dài, mãi sau này, Hoa Kỳ mới trở thành hình ảnh nổi trội kể từ hồi đầu thế kỷ thứ 20. Ngoại trừ địa hạt nghiên cứu về ngành canh nông, hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học khác đều được tài trợ qua những khoản tặng dữ của các nhà từ thiện tư nhân, hoặc của riêng từng mỗi tiểu bang, không phải là tiền từ ngân sách của chính phủ liên bang. 

Sau khi nhóm Đức Quốc Xã- Nazis- lên cầm quyền vào năm 1933, nhiều khoa học gia bỏ nước Đức sang Hoa Kỳ,họ ra đi hàng loạt, nổi tiếng nhất là trường hợp của ông Albert Einstein. Năm 1939, trước khi Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên chiến với Đức, ông Einstein viết một lá thư gửi cho Tổng thống Roosevelt cảnh báo rằng nước Đức có nguồn tinh hoa chất xám đủ khả năng để chế tạo ra vũ khí nguyên tử. Tổng thống FDR  bèn thực hiện dự án Manhattan Project chế tạo bom nguyên tử theo khuyến cáo của ông Einstein. Từ đó, Quốc Hội Hoa Kỳ ý thức được tầm quan trọng việc nghiên cứu khoa học. Và nguồn thu nhận các khoa học gia  vào Hoa Kỳ gia tăng rất nhanh. 

Đến giữa thế kỷ thứ 20, Hoa Kỳ trở nên một thiên đàng thu hút những tài năng xuất chúng của thế giới. Trước Thế Chiến thứ Hai, ngành nghiên cứu khoa học ở Mỹ không hề có hệ thống phân chia đẳng cấp như các định chế bên Âu châu. Ở bên Đức một phụ tá giáo sư phải ở trong vị trí này nhiều năm rồi mới trở thành giáo sư, để được tự do nghiên cứu điều mình muốn tìm hiểu. Còn ở Mỹ, như giáo sư Daniel Kevies, dạy môn Lịch Sử Khoa Học tại đại học Yale giải thích như sau: “Một giáo sư trẻ có rất nhiều tự do khi chọn lựa đề tài nào mình muốn nghiên cứu.”.  Sau khi chiến tranh kết thúc, ngành nghiên cứu khoa học ở Âu châu bị rơi vào tình trạng lộn xộn, thiếu tổ chức. Khi đem so sánh với nền khoa học ở Mỹ thì ở Âu châu thua xa, các khoa học gia không còn có thể nghiên cứu việc mình đang theo đuổi ở trong nước được nữa. 

Hơn thế nữa, Hoa Kỳ còn có cả một hệ thống phòng thí nghiệm rất lớn, do chính quyền tài trợ, sẵn sàng được dùng để phục vụ tất cả các công trình nghiên cứu. Bà Catherine Westfall, sử gia về các ngành khoa học trước đây bà từng dạy ở trường Michigan State University, nay bà đã nghỉ hưu, nói thêm rằng: “Nước Mỹ lúc nào cũng mở lòng đón tiếp các khoa học gia ngoại quốc. Họ có thể đem cả gia đình sang Mỹ và sau đó sẽ trở thành công dân Mỹ.

Giáo sư về ngành xã hội trong lĩnh vực khoa học, ông Olof Hallonsten của trường đại học Lund UniversityThụy điển cho rằng: chính cái quan điểm rõ ràng của chính phủ hoàn toàn đặt tin tưởng vào các khoa học là điều vô cùng quan trọng: “Khi bạn hoàn toàn tin tưởng vào các nhà nghiên cứu ở các trường đại học, hay các trung tâm nghiên cứu, bạn sẽ làm cho những khoa học gia được khích lệ, và họ sẽ ra sức nghiên cứu, tìm tòi cái mới để khi hữu sự sẵn sàng được đem ra sử dụng.”.

Thực ra nền khoa học của Mỹ cũng có lúc suy vong, và lúc hưng thịnh. Hồi thập niên 1950’s, Thượng Nghị Sĩ Joseph McCarthy muốn loại trừ các khoa học gia trong chiến dịch chụp mũ cộng sản lên đầu các khoa học gia, trong đó có cả nhà vật lý nổi tiếng J. Robert Oppenheimer. Ông bị chụp mũ là cộng sản. Từ năm 1993, Trung tâm nghiên cứu về trọng lực trong ngành vật lý nguyên tử dọn về Âu châu sau khi nước Mỹ ngừng tài trợ cho chương trình này. Từ trước đến nay chưa bao giờ có hiện tượng bất thường như hiện nay. Đó là việc khoa học gia được đào tạo ở Mỹ hay ở ngoại quốc lại bỏ nước Mỹ ra ngoại quốc để nhận việc làm ở bất cứ nơi nào cần đến họ. Nguồn tài trợ của tư nhân cũng như của chính phủ ở Mỹ là nguồn tài chính lớn nhất trên hành tinh này, và nước Mỹ là nước nhập cảng khoa học gia nhiều nhất thế giới. Đối với các khoa học gia, nước Mỹ là nơi rất tốt để họ sinh sống, và phát huy tài năng của mình. Nhiều người đã ở lại luôn ở Hoa Kỳ để sinh sống, hay học thêm. 

Bây giờ tình hình biến đổi theo chiều hướng khác. Nhà vật lý người Ý, ông Andres Urru dọn sang Hoa Kỳ vào năm 2023 để làm việc trong ngành từ tính ở trường đại học Rutgers. Ông dự tính sẽ trở thành giáo sư thực thụ ở Hoa Kỳ, cùng lúc đó, ông tìm việc làm ở gần nhà. Ông tâm sự: “Phát huy tài năng để trở thành một giáo sư đại học ở Mỹ là một điều  huy hoàng, rất tốt.”. Nhưng sau khi tổ chức National Science Foundation một tổ chức giữ vai trò chính trong việc cung cấp ngân khoản cho các công trình nghiên cứu khoa học, bị đe dọa sẽ cắt ngân sách vào hồi năm ngoái, thì giáo sư Andres Urru ngao ngán nói: “Giấc mơ trở thành giáo sư thực thụ của tôi trở nên mờ nhạt, và tôi hướng sự chú tâm sang Âu châu, tìm nơi nào có ngân khoản tài để tôi làm công việc nghiên cứu và giảng dạy.”. Ít lâu sau, giáo sư Urru dọn sang dạy ở trường đại học Cagliari ở tỉnh Sardinia. 

Nhà nghiên cứu di truyền học người Mỹ, tên là Audrey Lin, chú tâm đặc biệt vào việc nghiên cứu sự tiến triển của di truyền, sử dụng phương pháp cổ truyền DNA. bà Lin tìm hiểu xem vì sao con chó trở thành thú vật nuôi trong nhà. Bà kể lại rằng vào mùa Xuân năm 2025 tình hình tìm việc làm ở Hoa Kỳ trở nên bất ổn, nhiều giáo sư bị từ chối, hay trì hoãn không có việc làm. Nhưng theo bà nghiên cứu khoa học không thể bị ngừng lại. Tôi đã phải bỏ ra hàng chục năm của đời mình để nghiên cứu một công trình. Bây giờ tôi phải đi tìm nơi nào cho phép tôi có thể tiếp tục làm cho xong công trình nghiên cứu của mình.”. Bây giờ bà cũng được nhận vào chương trình cấp học bổng của tổ chức APART-USA, và bà sẽ sang nước Áo vào tháng Hai.

Thông thường Âu châu không thể cạnh tranh được với Hoa Kỳ trong việc đầu tư vào khoa học. Theo thống kê của Hiệp Hội Phát Triển Nghiên Cứu Khoa Học- American Association for the Advancement of Science-, Âu châu chỉ đầu tư khoảng 20% tổng số đầu tư vào nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới. Trong lúc đó, Hoa Kỳ đầu tư khoảng 29% tổng số đầu tư về nghiên cứu khoa học. Hơn thế nữa, theo ông Hallonsten thường ra những khoản đầu tư vào ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật báo trước nền kinh tế trong nước đang trên đà phát triển rất mạnh. Chính vì lý do đó, nền kinh tế Trung quốc đã phát triển mạnh nhờ họ đầu tư nhiều tiền của của vào khoa học cơ bản và vào kỹ thuật. Hiện tượng  tương tự đã xảy ra ở Hoa Kỳ ngay sau thế chiến  thứ Hai. Hiện nay Trung quốc chiếm khoảng 28% tất cả vốn đầu tư vào R & D- Research and Development- Nghiên Cứu và Phát Triển của cả thế giới. Song ông Hallonsten không tin rằng Trung quốc xây dựng được môi trường nghiên cứu tương tự như của Hoa Kỳ. Theo giáo sư Deborah Seligson dạy môn Chính Trị Học ở trường Villanova University:  Nhiều nhà nghiên cứu bỏ Trung quốc đi ra nước ngoài, phần lớn là những khoa học gia người Trung Hoa được đào tạo ở Hoa Kỳ. 

Riêng Âu châu có thể cung cấp môi trường nghiên cứu giống như ở Mỹ. Trước đây, môi trường này từng lôi cuốn được nhiều khoa học gia Mỹ. Tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học và Kỹ Thuật nước Áo, trong khu Vienna Woods, có rất nhiều bin đinh mới được xây cất, giống như những đám nấm mọc lên rất nhanh. Những tòa nhà này được xây cất bằng thép, và kính trong suốt, với phòng thí nghiệm tối tấn, chắc chắn rồi đây sẽ là nơi lý tưởng dành cho việc nghiên cứu. Ở đó văn hóa tự do nghiên cứu được bồi dưỡng, chăm sóc chu đáo. 

Nhà sinh vật người gốc Ý, Elia Mascolo cảm thấy thích thú và bị lôi cuốn bởi những cơ sở nghiên cứu mới của Viện Khoa Học và Kỹ thuật ở nước Áo. Ông chuyên phụ trách về nghiên cứu xem các loại “gene” phát triển ra sao. Trước đây, ông từng sinh sống và nghiên cứu ở Hoa Kỳ trong bốn năm. Nhưng đến khi chương trình APART-USA ra đời, ông lập tức làm đơn xin học bổng, và được chấp thuận. Ông cảm thấy hài lòng với những phương tiện ông được cung cấp ở Viện Nghiên Cứu nước Áo. Nói chung, các khoa học gia sẽ đi tìm nơi nào cung cấp phương tiện tốt cho học tiếp tục công trình nghiên cứu theo sở thích của họ. 

Hoa Kỳ đã mất đi những gì? Phải chăng nước Mỹ không còn là cái nôi tốt cho việc nghiên cứu khoa học? Giáo sư Seligsohn nhận xét rằng: “Hoa kỳ sẽ mất đi những tài năng uyên bác. Điều này không những xấu cho nước Mỹ mà còn không tốt cho cả thế giới. Nếu chúng ta xét theo chiều dài của lịch sử, từ bấy lâu nay, cái nôi lý tưởng cho nghiên cứu khoa học phải là Paris, Berlin hay Hoa Kỳ.”. Tương tự như vậy, việc làm của các kinh tế gia, chuyên nghiên cứu hậu quả của những phát minh về kỹ thuật, họ nhận thấy rằng, tất cả đều trông cậy vào những kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học cơ bản. Kể từ năm 1975, tỷ lệ cấp bằng sáng chế mới ở Hoa Kỳ tăng lên gấp ba, nhờ ngân khoản tài trợ của chính phủ liên bang, chiếm gần một phần ba tổng số đơn xin cấp bằng sáng chế.

Hoa Kỳ bỏ đi những thành quả nghiên cứu khoa học thì nước khác sẽ thu nhận. Đó cũng là điều dễ hiểu. Ông Fassman nói rằng nước Áo không chỉ đơn thuần đứng ra cứu vớt những khoa học gia. Họ đứng ra điều chỉnh chiều hướng di dân mới trong lĩnh vực khoa học.

Kể từ ngày ông Trump nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ hai vào tháng Giêng năm 2025, theo tạp chí Nature: gần 8,000 học bổng nghiên cứu bị hủy bỏ hay đóng băng, khoảng 25,000 khoa học gia trong chính quyền, cơ sở liên bang, và những cơ quan nghiên cứu bị mất việc làm.  Hậu quả của việc cắt bỏ ngân sách, và sa thải khoa học gia hiện vẫn còn lan tỏa trong rất nhiều định chế của Mỹ, và người ta có thể trông thấy rõ hậu quả thê thảm của biến cố này. 

Tuy nhiên theo sử gia Westfall chuyên nghiên cứu về tiến bộ khoa học, tình hình ở Âu châu cũng không sáng sủa hơn Hoa Kỳ. Gần đây, tại hội nghị của tổ chức CERN, tổ chức lớn nhất thế giới về nghiên cứu khoa học, bà Westfall nêu lên mối quan ngại rằng: Cuộc chiến tranh xâm lăng của Nga vào Ukraine khiến cho nhiều nước đều hướng công trình nghiên cứu khoa học vào chiến tranh và quốc phòng, bỏ qua những nghiên cứu khoa học cần thiết khác. 

Hình ảnh về tình trạng nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục bấp bênh và khó tiên đoán được. Kể từ ngày bà Lobinska bỏ trường Harvard sang nước Áo, ở trường Harvard có những thay đổi sau đây: Năm 2025, trường Harvard có số sinh viên quốc tế ghi danh theo học ở mức kỷ lục, rất cao. Sau đó, Quốc hội Hoa Kỳ buộc nhà trường phải cắt giảm khá nhiều đơn xin theo học, hay làm nghiên cứu sinh. Lý do là chính quyền Trump từ chối cấp ngân khoản cho việc nghiên cứu khoa học. Trong lúc đó, các khoa học gia phải đi tìm nơi nào có điều kiện giúp họ tiếp tục công trình nghiên cứu đang còn dở dang. Mỗi người phải tự xoay sở lấy, tìm ra cho mình con đường đi riêng. 

Lấy trường hợp của nhà nghiên cứu hóa học Yassin El Abiead, một nghiên cứu sinh vừa được nhận vào chương trình APART-USA, có thể xem như ông được trở về quê hương của mình. Ông sinh ra ở tỉnh nhỏ gần thủ đô Vienna, và theo học ở địa phương. Sau đó, ông được sang Hoa Kỳ du học vài năm, chủ yếu là vì muốn được làm công tác nghiên cứu với nhà nghiên cứu ông ưa thích. Ông nhận xét rằng: “Hoa Kỳ là nước có rất nhiều tiền, chính vì thế nước Mỹ thu hút được nhiều nhân tài đến đây để làm nghiên cứu khoa học. Tôi không hiểu vì sao bây giờ họ lại cắt giảm ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học.”. Ông thở dài, ngao ngán. 

Sau cùng, ông kể tiếp về những gì ông suy nghĩ trong đầu: “ Hầu hết các công trình nghiên cứu vĩ đại nhất đều xuất phát từ nước Đức. Và giống như ở nhiều nơi khác trên khắp Âu châu, bạn trông thấy những phòng thí nghiệm đồ sộ giống như ở thủ đô Vienna, của nước Áo..”. Tại trường đại học Vienna, Phân Khoa Hóa Học, vẫn còn hội trường rất lớn để giáo sư đứng giảng bài trên bục gỗ, giống hệt như tấm hình mà ông Albert Einstein chụp khi ông còn là sinh viên theo học ở đây. Sự kiện này  xảy ra trước khi bọn Đức Quốc Xã nhảy ra nắm quyền cai trị nước Đức không lâu lắm.” .

Ông El Abiead tóm gọn ý kiến của ông như sau: “”Hoa kỳ là nơi khoa học gia rủ nhau đến để nghiên cứu. Nhưng tình hình đã thay đổi. Để coi xem chuyện gì sẽ xảy ra.”.

Nguyễn Minh Tâm  dịch theo báo TIME ngày 9/3/2026

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

MỚI CẬP NHẬT

spot_img