Thursday, January 1, 2026
Home Blog Page 438

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC 50 NĂM SAU CÒN SỚM – VỪA TẦM HAY ĐÃ MUỘN

Kỷ niệm 50 năm, ngày chấm dứt chiến tranh, Việt Nam thống nhất đất nước; nhưng dân Việt vẫn còn phân hóa theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bởi vậy mới có vấn đề “Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc” đặt ra 50 năm sau như một vấn nạn dân tộc chưa có một giải pháp đồng thuận, vừa tầm hay một cách tiếp cận hài hòa cho cả hai phía thắng và thua, trong nước và ngoài nước.

Năm mươi năm nhìn lui, nhìn tới và nhìn quanh đất nước, xã hội, con người tập thể và cá thể chính mình từ nhãn quan của người trong cuộc và người ngoài cuộc để thấy được gì?

Thế hệ Chiến tranh Việt Nam (tiêu biểu là những người sinh từ 1935 đến 1960) đến nay đã có hơn một nửa đã về đất. Người còn lại thường tự hỏi rằng, vết thương chiến tranh đã lành hay chưa? Bao giờ người Việt Nam anh em mới có sự hòa hợp hòa giải thật sự?

30- 4- 1975

Hình minh họa:

 Gặp nhau trên hai chiến tuyến 1972

 và 50 năm sau gặp nhau anh em cùng một nhà.

Đây không phải chỉ là Ngày Khép Lại của cuộc chiến tranh Việt Nam 30 năm mang dấu ấn bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc mà còn là thời điểm và cơ hội hé cửa và mở đường cho một thế hệ mới của người Việt nói riêng và cho hằng triệu người Việt Nam cùng đất nước nói chung bước ra cũng như ngoái lại, nhìn thấy và tiếp cận với thế giới toàn cầu.

Đã 50 năm qua, nếu chỉ đứng về mặt tình tự và cảm xúc trung dung “có triệu người vui, có triệu người buồn” như câu nói nổi tiếng của ông cựu Thủ tướng bên thắng cuộc Võ Văn Kiệt (1922-2008) trong ngày 30-4-1975 thì vết thương tinh thần vẫn chưa thành sẹo – nghĩa là niềm vui chưa trọn vẹn và nỗi buồn chưa nguôi ngoai – của cả hai phía anh em. Do đó, tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc vẫn còn trôi nổi trong tầm mong ước tiệm tiến cho đến hôm nay.

Trên lập trường dân tộc thuần túy, tự bản chất và căn nguyên của cuộc chiến Việt Nam cần phải được hiểu rằng: Đây là cuộc Chiến Tranh Việt Nam (Vietnam War) chứ không phải là cuộc nội chiến của người Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc (Vietnamese War) bởi sự tương tranh, thù hận, bên này cần tiêu diệt bên kia là ở hai phía chính trị, kinh tế và sách lược chinh phục (Tư Bản VS Cộng Sản?) ở tầm mức vùng miền và thế giới chứ không phải do sự hận thù của người Việt, có khi là ruột thịt, nhưng phải sống theo vùng chính trị địa lý quê hương giữa hai miền Nam Bắc. Tuy nhiên, một khi những người anh em phải lên sân khấu đấu trường thì mặc nhiên phải “nhập vai” (giết hay bị giết)! Lâu ngày, thói quen sẽ tạo thành thiên tính. Phá vỡ thiên tính theo thói quen vẫn thường khi khó hơn phá vỡ một… nguyên tử! Do vậy, nhu cầu thiêng liêng và truyền thống “trăm con cùng một mẹ” đã bị phân hóa tới mức hận thù. Ai tự ý công khai muốn vượt qua hay tiến lên khỏi hai phía hận thù thì thường bị “đàn cua cùng chung giỏ giương càng níu lại” và khó thoát khỏi bị sơn vàng hay phết đỏ hoặc bị dán nhãn hiệu bên nầy hay bên kia!

Năm mươi năm (1975-2025), thời gian trung bình của một đời người và hai thế hệ, quán tính hận thù vẫn còn tồn tại. Triển vọng hòa hợp hòa giải dân tộc vẫn là mảnh đất gieo giống “trăm con cùng một Mẹ” mãi vẫn chưa mọc mầm. Hiện tượng hằng triệu người Việt từ hải ngoại về thăm quê hương ồ ạt đến “cháy vé” kể cả 3 thế hệ (cha mẹ, con cái và cháu chắt); nhưng người ta đã trở về như một du khách hay một thành viên của dòng họ, gia đình và bằng hữu chứ được mấy ai về quê với ý niệm hội nhập với cộng đồng dân tộc trọn vẹn (?!).

Lỗi tại ai và do đâu?

–         Tại bên thắng cuộc chăng? Vâng đúng! Bởi mặc cảm tự tôn cùng với mô thức áp đặt thiếu mềm dẽo và công bằng đối với bên thua cuộc.

–         Tại bên thua cuộc chăng? Vâng đúng! Bởi mặc cảm tự ti bị “đồng minh” phản bội nên thua cuộc và người anh em “trên cơ” bức bách, ngược đãi.

Trong lúc đó, muốn hòa giải thì phải cần một mặt bằng hòa hợp trước. Hai bên đã phân hóa nhau lâu ngày vì ở trên hai chiến tuyến của lịch sử, hai hoàn cảnh khác nhau và hai lập trường đối nghịch. Hòa hợp không phải là đòn phép mà là một trạng thái cởi mở, tiếp nhận và cảm thông phát xuất từ tâm. Triết lý hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam đơn giản và trong sáng như nụ cười Thằng Bờm và nắm xôi Phú Ông: Đúng lúc, đúng tầm và tự do bình đẳng… chứ chẳng phải vận dụng những phương án vĩ đại, nghị quyết đơn phương hay vọng tưởng viễn mơ nào cả.

Dẫu chư vị đã thuộc nằm lòng vè ca dao Thằng Bờm đâu đó rồi nhưng phút nầy vẫn trân trọng xin mời đọc lại bằng tấm lòng thật thà, nhân hậu và  chan hòa không mưu “thắng” chẳng cầu “thua” của tầng lớp người Việt Nam trung thực:

Thằng Bờm

Thằng Bờm có cái quạt mo,

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.

Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu,

Phú ông xin đổi một xâu cá mè.

Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè,

Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.

Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim,

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.

Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi,

Phú ông xin đổi nắm xôi: Bờm cười! 

Đây chính là tinh thần hòa hợp căn bản của dân tộc nhân bản và nhân văn. Sự hòa hợp giữa hai thế lực cao thấp, thiếu cân xứng tưởng như không bao giờ có cơ hội đứng trên cùng một mặt bằng xã hội và tâm lý; thế nhưng cuối cùng, sau thái độ ứng xử công bằng về thế lực (nắm xôi = quạt mo) thì chung cuộc là sự hóa giải của nhu cầu và khát vọng.

Năm 1975, dân số cà hai miền Nam Bắc chỉ mới bằng nửa hiện tại (48 triệu – 1975) nhưng lịch sử Chiến tranh Việt Nam và địa lý đất nước chia đôi đã mặc nhiên phân ranh giới anh em, đồng bào ruột thịt thành hai bên chiến tuyến: Bên thắng trận và bên thua trận (hay nhìn theo cuộc diện chính trị, quân sự và kinh tế như nhà báo Huy Đức thì có thể nhận diện hai phía là Bên Thắng Cuộc và Bên Thua Cuộc). Dư âm và dư chấn của cuộc chiến 20 năm (1954-1975) đã “điểm danh” đồng bào, anh em thành hai phía được và thua như trắng đen, đỏ vàng thù nghịch. Qua tương tác và tiếp cận giữa hai miền Nam Bắc, đáng lẽ cột mốc phân ranh tự nhiên thấp dần và mờ nhạt nhưng đã 50 năm sau cuộc chiến, lằn ranh đó vẫn còn. Do đâu?

Tìm sự hòa hợp như tìm bóng trăng dưới đáy hồ: Sóng yên, nước lặng và trong suốt thì bóng trăng hiện ra. Đã 50 năm qua, hai bên thắng cuộc và thua cuộc tìm bóng trăng trên biển hồ sóng gió ào ạt từ bản tâm phân hóa chủ nghĩa nên anh em không nhìn rõ mặt nhau. Càng đem nhiều lời hùng biện hay lý sự để thuyết phục nhau thì càng xa nhau.

Trong nhịp sống thật, người Việt Nam anh em hai phía đã thực sự có những biểu hiện hòa hợp và hòa giải chân tình và cảm động nhưng chỉ là những đám mây lành thoáng qua, rồi bầu trời vẫn âm u trở lại. Xin đơn cử vài “bóng mây hòa hợp” bay qua như thế:

Tử Chiến Hoàng Sa

Ngày 12-1-2014, 40 năm sau trận hải chiến Hoàng Sa chống Trung Hoa xâm lăng, lần đầu tiên cả trăm triệu người Việt Nam anh em, bất luận Bắc Nam, không phân biệt trong nước hay ngoài nước, đều đã được nhìn thấy mặt nhau trong buổi tưởng niệm 40 năm Hoàng Sa bị Trung Hoa chiếm đoạt bằng vũ lực và 74 chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974 được tổ chức tại Hà Nội. Lần đầu tiên hơn 30 năm, người anh em miền Bắc đã gọi Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà là “Thiếu tá hạm trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa”, là một anh hùng vị quốc vong thân thay cho những nhãn hiệu đầy định kiến do “chính sử, dã sử, huyền sử, khuyết sử, tư sử, giả sử…” để lại như “Ngụy quân, Ngụy quyền; tay sai Mỹ Ngụy, lính đánh thuê…” ! Tiếc thay, sự nhận diện ra nhau – đầy tình tự dân tộc làm căn bản cho sự hòa hợp giải dân tộc không lưu phương dài hơn một thời tưởng niệm.

Nhượng địa cho Trung Quốc

Ngày 10-6-2018, theo biểu tình phản đối dự luật về ba đặc khu kinh tế – hành chính đã bùng lên tại Hà Nội, Sài Gòn và một số địa phương khác.

Dự luật cho thuê đất 99 năm đối với ba đặc khu Vân Đồn, Phú Quốc và Bắc Vân Phong đã bị công luận Việt Nam lên án là nguy hiểm cho chủ quyền quốc gia. Chính phủ và Quốc Hội Việt Nam đã quyết định hoãn việc thông qua luật này.

Có thể nói đây là lần đầu tiên kể từ cuộc biểu tình rầm rộ trên khắp cả nước năm 2016 phản đối công ty Formosa Đài Loan làm ô nhiễm biển miền Trung, người dân tại Việt Nam lại xuống đường đông đảo.

Thông tín viên của AFP tại Hà Nội đã thông tin đoàn người tuần hành xung quanh Hồ Gươm, giương cao các khẩu hiệu phản đối chính quyền cho Trung Quốc thuê đất. Hình ảnh trên các mạng xã hội cho thấy tuần hành cũng diễn ra tại nhiều địa điểm ở thành phố Hồ Chí Minh, hay Nghệ An, Bình Dương, Nha Trang…

Đặc biệt là khối người Việt hải ngoại cũng chung dòng cảm xúc với người anh em trong nước, cùng nêu cao tinh thần chống ngoại xâm. Khi tổ quốc Việt Nam đang ở cận sự hay viễn ảnh lâm nguy, người Việt không còn phân chia ranh giới để cùng góp chung tiếng nói bảo vệ giống nòi, đồng cảm thương yêu quê cha đất tổ.

Đứng trên cùng mặt bằng, chung tầm nhìn về đất nước, thắng bại chưa hẳn là thước đo tuyệt đối – bởi nói như Lư Khôn đời nhà Minh Trung Quốc: “luận anh hùng chớ kể hơn thua” (luận anh hùng mạc vấn thành bại) – thì nhìn nhận hay thấy được nhân cách và tấm của nhau bên ni Trường Sơn Đông mưa dầm và bên kia Trường Sơn Đông nắng cháy mới mong hòa hợp, tìm ra mẫu số chung cho một tiến trình hòa hợp, hòa giải có thực chất và sức mạnh chuyển biến lòng người và hành động cụ thể.  

Thế hệ Tô Lâm

Thế hệ (generation) là một nhóm người sinh ra và sống trong cùng một khoảng thời gian nhất định, có những trải nghiệm, đặc điểm xã hội và văn hóa tương đồng.

Về độ dài của một thế hệ, không có con số cố định, nhưng thường được tính trong khoảng 20 đến 30 năm. Đây là khoảng thời gian trung bình để một người trưởng thành và sinh ra thế hệ tiếp theo.

Ở phương Tây, các thế hệ thường được phân chia như sau:

Thế hệ Baby Boomers (1946–1964)

Thế hệ X (Gen X) (1965–1980)

Thế hệ Y (Millennials) (1981–1996)

Thế hệ Z (1997–2012)

Thế hệ Alpha (2013 đến nay)

Ở Việt Nam, cách phân chia thế hệ có thể khác đôi chút do ảnh hưởng của lịch sử, chiến tranh và sự phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng nhìn chung, một thế hệ thường kéo dài khoảng 20-25 năm.

Người lãnh đạo cao nhất của Việt Nam hiện nay là ông Tổng Bí thư Đảng CSVN Tô Lâm. Ông sinh năm 1957 và cũng là nhân vật lãnh đạo đầu tiên trong dòng lịch sử Việt Nam có thành tích cao nhất về cả văn lẫn võ: Về Văn ông có học vị Tiến Sĩ và học hàm Giáo Sư. Về Võ ông có quân hàm Đại Tướng. Về chức vụ ông là Tổng Bí thư của Đảng đương quyền lãnh đạo toàn diện đất nước.

Thế hệ Tô Lâm – tức những người sinh vào khoảng đầu thập niên 1950 đến cuối 1960 – có một số đặc điểm đặc biệt so với hai thế hệ đàn anh và kế thừa ở Việt Nam. Đây là nhóm người lớn lên trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam và trưởng thành vào những năm đầu sau thống nhất đất nước (1975) với những điểm nổi bật của thế hệ này là: Trưởng thành trong thời kỳ bao cấp (1975–1986). Đóng vai trò quan trọng trong Đổi Mới (từ 1986). Chuyển tiếp giữa hai thời đại – từ truyền thống sang hội nhập. Tập trung vào ổn định chính trị và phát triển kinh tế nhà nước. Phần lớn những nhân vật lãnh đạo trong thế hệ này bước vào chính trường từ những vai trò chuyên môn có trường lớp và bài bản đào tạo chính quy chứ không phải với tinh thần du kích “cầm gươm ôm súng xông tới” hay khả năng “hồng trọng hơn chuyên” trong quá khứ.

Thế hệ Tô Lâm là một “thế hệ bắc cầu” vừa tiếp thu kinh nghiệm và tác dụng chính trị của thế hệ đàn anh đi trước, vừa truyền đạt, định hướng và làm gương cho thế hệ đàn em (những người lãnh đạo trẻ hơn, sinh sau 1970s hoặc 1980s) đang nổi lên trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Hồi tháng 9 năm 2024, ông Tô Lâm, khi đó đang giữ chức Tổng bí thư và Chủ tịch nước, qua Mỹ dự Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Trong dịp nầy ông đã tới thăm và phát biểu tại Đại học Columbia ở New York. Sau bài phát biểu, ông Tô Lâm nhận câu hỏi từ Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng, Giám đốc Viện Đông Á Weatherhead thuộc Đại học Columbia.

Bà Hằng hỏi: “Dưới sự lãnh đạo của mình, ông sẽ làm gì để thúc đẩy sự hòa giải giữa những người Việt Nam?”

Ông Tô Lâm cho biết dù chiến tranh đã đi qua gần 50 năm, nhưng quá khứ sẽ không bị lãng quên mà việc quan trọng là rút ra bài học từ quá khứ để hướng tới tương lai hòa bình và ổn định. Cách trả lời tổng quát như thế được giới truyền thông khen là bén nhạy và khéo léo về mặt ứng xử với công luận; nhưng viễn kiến và bước đi cụ thể chưa đủ thuyết phục vì căn bản vẫn còn nằm trong dự phóng.

Đã 50 năm qua, cờ của một miền Nam thua trận vẫn còn do người anh em bên thắng cuộc gọi là “cờ Ngụy”, văn học nghệ thuật miền Nam 1954-1975 cũng vẫn còn nhìn qua tên gọi của các phong trào phản chiến xuống đường là “văn chương đô thị miền Nam”… và nhiều danh xưng, tên gọi, dấu hiệu mang tính tiêu cực đối với người anh em thua cuộc. Trong khi đó, chỉ cần quay đầu là thấy bến.

Sau 50 năm, sự đối thoại âm thầm về mặt tâm lý hay quan điểm giữa hai miền Nam Bắc vẫn là cảnh Phú Ông bất chấp Thằng Bờm và Thằng Bờm cũng bất cần Phú Ông.

Ông Tổng Bí thư Tô Lâm đã mở đầu một nước đi tích cực và cụ thể hơn.

Hôm 13 tháng 2, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu tại một phiên thảo luận tổ, trong khuôn khổ kỳ họp bất thường lần thứ 9 của Quốc Hội. Trong bài phát biểu với nội dung bàn về đường hướng phát triển đất nước, ông đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Singapore, trước thành tích phát triển khá rực rỡ của nước này. Ông đã nêu tên Sài Gòn, thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, để so sánh với Singapore:

“Nhìn sang Singapore, xưa họ nói được sang Bệnh viện Chợ Rẫy chữa bệnh là mơ ước; 50 năm nhìn lại giờ mình lại mơ sang họ khám bệnh.”.

Trước đó, hôm 9 -1- 2024, trong cuộc gặp với các bô lão Đảng viên, nguyên cán bộ Nhà nước, đại biểu trí thức, nhà khoa học và văn nghệ sĩ các tỉnh thành phía Nam, ông Tô Lâm cũng đã có những lời nói tích cực về cựu thù. Bài phát biểu của ông Tô Lâm có đoạn:

 “Những năm 60, Sài Gòn – TP HCM là điểm sáng, Hòn ngọc Viễn Đông, Singapore cũng không bằng nhưng giờ đây tốc độ phát triển đã vượt rất xa.”

Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm công khai thừa nhận sự phát triển của Việt Nam Cộng Hòa so với các nước quanh khu vực ở cùng thời điểm. Và đây cũng là lần đầu tiên, những người anh chị em miền Nam cảm thấy như mình “được hiểu và chia sẻ” bởi một người anh em miền Bắc thuộc hàng tổng tư lệnh. Trong tâm thức Việt Nam ông Tô Lâm đã đưa hình ảnh nắm xôi trong biểu tượng Thằng Bờm và Phú Ông để tạo ra nụ cười đón nhận của những người anh em một thời bên kia chiến tuyến. Ông đã một bước phá vỡ rào cản của những người tiền nhiệm thản nhiên nói toàn những điều tiêu cực về Việt Nam Cộng Hòa như gọi là chế độ “tay sai”, “ngụy”, “đánh thuê”; dán nhãn hiệu kinh tế xã hội của Sài Gòn là “phồn vinh giả tạo”.

Và lịch sử là một dòng chảy linh động. Thế hệ Tô Lâm cùng đã chứng tỏ rất linh hoạt và cập nhật trước những thách thức mới của hoàn cảnh và thời đại. Đặc biệt là trong những ngày vừa qua, đối diện với một cuộc biến động kinh tế, chính trị có dấu hiệu khủng hoảng khi ông Donald Trump, tổng thống Mỹ áp thuế toàn cầu với Việt Nam bị áp thuế 46%. Ngay tối 4-4-2025, ông Tô Lâm và nội các đã phản ứng cấp thời; nhanh đến nỗi Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Marc Knapper vỗ tay khen ngợi.  

Mặc dầu cuộc thương chiến của Trump đang trên chiều hướng biến động và thế giới đang phân cực cũng như có dầu hiệu tái lập một trật tự toàn cầu mới thì điều đáng nói ở đây là trên vũ đài chính trị Đông Tây, giới lãnh đạo Việt Nam ngày nay chứng tỏ được sự nhạy bén và viễn kiến thích nghi.

Viễn ảnh và cận sự Hòa hợp, Hòa giải  

Mỹ với cuộc Nội Chiến (Civil War) chỉ trong vòng 4 năm (1861-1865) nhưng phải mất cả 100 năm để hòa hợp hòa giải. Đức với cuộc chiến Đông Tây (1949-1990) phải cần cả 30 – 40 năm, Đại Hàn (cuộc chiến từ 1950 đến nay vẫn còn xung đột).

Việt Nam với sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất chưa hẳn là trở ngại chính trị cho người Việt Nam anh em hòa hợp. Trường hợp chính quyền độc đảng như Trung Hoa, Singapore, Rwanda… hay các nước Trung Đông do Hồi giáo lãnh đạo nhưng người dân trong các nước đó không phân chia hai chiến tuyến thù nghịch. Đơn cử những hiện trạng phân hóa và hòa giải tiêu biểu như trên để người Việt anh em tham khảo và suy gẫm.   

Chúng ta đã để dòng cảm xúc thắng và thua quá nặng nề và nghiệt ngã trôi chảy vào mạch sống dân tộc suốt 50 năm. Không ai là người có năng lực hay quyền hạn trách cứ lịch sử; nhưng mỗi người dù ở vị thế nào đều không thể tách mình ra khỏi dòng lịch sử. Cuộc sống sẽ không có khi nào là muộn màng để tìm một điệu sống an vui, hài hòa giữa thắng và thua, đấu tranh và hòa giải.

Sacramento. Cali, Tháng Tư 2025

Trần Kiêm Đoàn

Cuộc chiến thuế quan giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Nói về thuế quan TT Trump gián cho Việt Nam 46%, đây là một vấn đề kinh tế – chính trị rất thực tế trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ – Trung kéo dài từ thời TT Trump đến nay. Việc Hoa Kỳ dưới thời TT Donald Trump áp thuế quan cao, cụ thể có trường hợp tới 46% đối với hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam, thực chất không hoàn toàn nhắm vào Việt Nam, mà đây là một đòn gián tiếp nhằm đối phó với Trung Cộng.

Các lý do chính của việc áp thuế cao đối với hàng Việt Nam

Chống “lẩn tránh thuế quan” (transshipment): Mỹ cáo buộc rằng nhiều công ty TC đã chuyển hàng hóa qua Việt Nam, sau đó gắn nhãn “Made in Vietnam” để tránh mức thuế cao mà Mỹ đánh vào thẳng vào các mặt hàng TC tại chính quốc. Một số ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp gồm: thép, nhôm, gỗ dán, thiết bị điện tử và dệt may.

Tăng cường thực thi luật lệ thương mại: Dưới thời TT Trump, chính sách “America First” không chỉ nhằm vào TC mà còn mở rộng sang các nước có mức xuất siêu lớn vào Mỹ, trong đó Việt Nam nằm trong top đầu. Năm 2020, Việt Nam xuất siêu hơn 81 tỷ USD sang Mỹ, gây lo ngại cho Washington rằng Việt Nam đang “hưởng lợi gián tiếp từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung”. Năm 2024, Việt Nam xuất siêu 123 tỷ.

Cảnh báo Việt Nam phải kiểm soát nguồn gốc xuất xứ: Bộ Thương mại Hoa Kỳ và Hải quan Mỹ đã điều tra và đưa ra những mức thuế trừng phạt (ví dụ trong ngành thép cán nguội/lạnh, mức thuế tới 456% nếu phát hiện xuất xứ nguyên liệu từ TC nhưng không được khai báo đúng khi qua VN). Mục tiêu là ép Việt Nam phải siết chặt chuỗi cung ứng và kiểm soát gian lận thương mại.

Có phải đây là đòn dằn mặt Trung Cộng của Hoa Kỳ?

Trong một chừng mực nào đó, chúng ta có thể nói như vậy.

Việc Mỹ đánh vào hàng Việt thực ra là một phần trong chiến lược bao vây thương mại Trung Cộng, vì:

Trung Cộng là “công xưởng thế giới”, nhưng đang tìm cách né đòn bằng cách chuyển dây chuyền sản xuất sang các nước thứ ba như Việt Nam, Cambodia, Lào, Mexico v.v…

Trong số 123 tỷ USD xuất cảng của Việt Nam sang Mỹ (năm 2024), có khoảng 30-40% hàng có linh kiện, nguyên liệu, hoặc máy móc từ TC. Mỹ lo ngại rằng chính sách thuế cao của họ với TC đang bị vô hiệu hóa vì Việt Nam che đậy hầu hết nguồn cung ứng nguyên vật liệu cùng các thành phẩm nhằm xuất cảng xuất phát từ…TC!

Vì vậy, Hoa Kỳ hoàn toàn đúng khi muốn ngăn chặn hành vi lẩn tránh thuế. Nếu không làm gắt, các công ty TC sẽ “đi đường vòng” của các quốc gia nằm trong chính sách “Sáng kiến một vành đai, một con đường – BRI”. Tuy nhiên, việc đánh thuế lên hàng Việt có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp chân chính của Việt Nam, làm chậm lại quá trình hội nhập chuỗi cung ứng toàn cầu mà Việt Nam đang nỗ lực theo đuổi.

Trong danh sách các ngành bị Mỹ đánh thuế cao nhất đối với hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong bối cảnh điều tra chống lẩn tránh thuế (anti-circumvention), các ngành sau đây bị ảnh hưởng nặng nề nhất:

1. Ngành Thép – Nhôm (Steel & Aluminum Products) có mức thuế cao nhất: lên đến 456%. Đây là ngành bị đánh thuế khắc nghiệt nhất, đặc biệt là các sản phẩm thép cán nguội và cán nóng có nguồn nguyên liệu từ TC nhưng chỉ qua Việt Nam để gia công nhẹ hoặc gắn nhãn “Made in Vietnam”. Nên nhờ Cty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa, Vũng Áng Hà Tĩnh chỉ là một Cty nhỏ sản xuất không đủ dùng cho nội địa. Năm 2019, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) áp mức thuế 456,23% với một số doanh nghiệp thép tại Việt Nam nếu không chứng minh được nguyên liệu không đến từ TC. Nguồn: DOC Final Ruling on Anti-Circumvention (2019)

2. Ngành Gỗ – Ván ép (Plywood, Furniture) với mức thuế: 200% – 300% (với ván ép có gốc TC). Mỹ cáo buộc rằng TC chuyển lõi gỗ (core veneers) sang Việt Nam, sau đó được dán bề mặt tại Việt Nam và xuất sang Mỹ. Mức thuế trừng phạt được áp dụng cho các công ty không chứng minh được tỷ lệ nội địa hóa. Vào tháng 6/2020, DOC công bố điều tra và áp thuế gần 300% cho một số nhà xuất khẩu ván ép Việt Nam.

3. Ngành Vỏ Xe (Tires) với mức thuế: 22% – 133%. Mỹ cho rằng có hiện tượng “dumping” (bán phá giá) từ các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là vỏ xe chở khách và xe tải nhẹ. Bộ Thương mại Mỹ (DOC) năm 2020 công bố mức thuế chống bán phá giá lên đến 133,42% đối với một số doanh nghiệp không hợp tác điều tra.

4. Ngành May mặc – Giày dép – Túi xách với mức thuế: 10% – 25% (theo chính sách chung của TT Trump). Các mặt hàng nầy không bị điều tra “lẩn tránh thuế”, nhưng lại chịu ảnh hưởng chung do chính sách tăng thuế thời chiến tranh thương mại nằm trong chính sách của TT Trump. Điều đáng lưu ý là một số doanh nghiệp TC chuyển nhà máy sang Việt Nam để né thuế, gây rủi ro bị Mỹ rà soát kỹ trong tương lai.

5. Thiết bị điện – điện tử (bao gồm bảng mạch, module điện tử, máy vi tính) với mức thuế: 15% – 25% (nếu bị nghi ngờ có nguồn gốc TC). Mỹ từng nghi ngờ một số công ty sản xuất bảng mạch PCB và module vi điện tử dùng nguyên liệu TC, rồi chỉ gia công nhẹ tại Việt Nam. Mặc dù chưa có mức thuế trừng phạt nặng như ngành thép, nhưng đang các mặt hàng trên nằm trong danh sách theo dõi và điều tra.

Đứng trước tình thế nầy, thay vì chấp nhận và đề nghị với HK là chấp nhận thuế quan 0% áp dụng cho cả hai quốc gia, điều mà hành pháp Mỹ phủ nhận ngay sau đó và không tiếp phái đoàn BT Bộ Thương mại Việt với hàng trăm thành viên đi theo. Vì sao? Chính vì HK biết rõ 5 chẵn 5 là 10 là hàng Việt xuất cảng chính là hàng Tàu chuyển qua để tránh thuế quan rất cao ở TC. Vì vậy, Việt Nam cần phải siết chặt lại quản lý xuất xứ,

  • Chứng minh rõ ràng tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm,
  • Và hợp tác minh bạch với Mỹ để phân biệt đâu là doanh nghiệp Việt thực sự, đâu là “bình phong” cho TC.

Cuộc viếng thăm của Tập Cận Bình

Một sự kiện xảy ra vài ngày trước đây là sự hiện diện của CT Tập Cận Bình viếng thăm Việt Nam ngày 13-14/4/2025, Việt Nam đã có những phản ứng tích cực nhằm tăng cường quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực. trong đó, TBTCS Tô Lâm đã bày tỏ mong muốn thúc đẩy hợp tác với TC trong các lĩnh vực như ngoại giao, quốc phòng. Sau đó TCB đi Malaysia và Phi Luật Tân để siết chặt mới liên minh trên mặt Biển Đông. Tuy chưa biết được nội dung của cuộc viếng thăm TCB và TL, nhưng chúng ta vẫn có thể hình dung được rằng: “Phải chăng sự hiện diện của TCB vừa qua là để dằn mặt Tô Lâm, cảnh cáo Tô Lâm không”được” ngã về Mỹ không?

Từ giới quan sát chính trị quốc tế cũng đặt ra giả thuyết tương tự phải chăng chuyến thăm của Tập Cận Bình (TCB) sang Việt Nam là một tín hiệu “răn đe mềm” với ban lãnh đạo mới của Việt Nam, đặc biệt là ông Tô Lâm, trong bối cảnh Việt-Mỹ đang xích lại gần nhau?

Dưới đây là một phân tích chủ quan dựa trên các yếu tố địa chính trị và dấu hiệu ngoại giao hiện đã và đang xảy ra. Về bối cảnh các chuyến thăm viếng trong qua khứ:

  • Tháng 9/2023, TT Joe Biden sang Việt Nam, nâng cấp quan hệ hai nước lên mức Đối tác chiến lược toàn diện, ngang hàng với TC.
  • Tháng 12/2023, Tập Cận Bình sang Việt Nam, ký nhiều thỏa thuận hợp tác kinh tế, quốc phòng, công nghệ…
  • Tháng 4/2025, ông TCB quay lại sớm hơn bình thường, ngay sau khi ông Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư (tháng 3/2025).

Việc xuất hiện của TCB vừa qua là một tín hiệu không thể xem là ngẫu nhiên, vì TC xưa nay rất nhạy cảm với các quốc gia “trong vùng ảnh hưởng” có dấu hiệu ngả về phương Tây, đặc biệt là Mỹ.

Mục tiêu chính của Tập Cận Bình?

  • Phải chăng là chỉ muốn củng cố ảnh hưởng địa chính trị. TC muốn tái khẳng định vai trò “người anh cả”, nhắc Việt Nam rằng họ đang ở ngay cạnh, và là đối tác quan trọng hàng đầu về cả chính trị, kinh tế và an ninh. Chuyến thăm mang tính “xác lập ranh giới”: Việt Nam có thể hợp tác với Mỹ, nhưng không được vượt lằn ranh chiến lược của TC (đặc biệt về Biển Đông, Đài Loan, hợp tác quân sự).
  • Và sâu thẳm hơn nữa, TCB muốn thăm dò lập trường của Tô Lâm vì Tô Lâm vốn là người xuất thân từ Bộ Công an, thực dụng và thận trọng. Tuy nhiên, việc ông trực tiếp và chính thức tiếp Tổng thống Biden, rồi sau đó lên chức Tổng Bí thư, khiến TC muốn kiểm tra lập trường của ông. Có thể xem đây là một phép thử ngoại giao của Bắc Kinh: “Liệu ông Tô có giữ cân bằng như các đời lãnh đạo trước, hay nghiêng hẳn về Mỹ?”
  • Còn đối với Mỹ, TCB nhắn gửi một cách tế nhị là:” Tái khẳng định ảnh hưởng của TC tại Việt Nam, và gửi thông điệp đến Mỹ rằng TC vẫn nắm đòn bẩy quan trọng tại Đông Nam Á.

Phản ứng của Việt Nam

Chính sách cây tre của Việt Nam sẽ ra sao?

Vấn đề quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam, Trung Cộng và Hoa Kỳ luôn luôn phức tạp, và chính sách của Việt Nam không hề mang tính thần phục hay hoàn toàn nghiêng về một bên trong các cuộc đối đầu quốc tế, như cuộc chiến thuế quan giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng hiện nay.

Chính sách ngoại giao của Việt Nam thường được gọi là “cây tre,” tức là giữ một tư thế linh hoạt, không theo về một phía mà duy trì quan hệ hòa hoãn với các nước lớn để bảo vệ lợi ích quốc gia. Việt Nam luôn cố gắng duy trì quan hệ tốt với cả TC và Hoa Kỳ, mặc dù hai quốc gia này có những mâu thuẫn lớn, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và an ninh.

  1. Quan hệ với Trung Cộng: Việt Nam luôn chú trọng vào mối quan hệ với TC, đặc biệt là về thương mại, đầu tư và an ninh, nhưng đồng thời cũng duy trì một lập trường độc lập, không để TC gây áp lực quá đáng. Trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam có quan điểm rõ ràng về bảo vệ chủ quyền, bất chấp sự tranh chấp với TC, và cố gắng tối đa và hạn chế những va chạm thực tế với TC ngoài biển Đông. Chính sách này cho thấy Việt Nam không chịu thần phục TC mà vẫn bảo vệ lợi ích quốc gia của mình trong một giới hạn nào đó.
  2. Quan hệ với Hoa Kỳ: Với Hoa Kỳ, Việt Nam cũng duy trì một mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và an ninh. Tuy nhiên, Việt Nam không hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ, và vẫn giữ được sự độc lập trong các quyết định chính trị. Trong cuộc chiến thuế quan giữa HK và TC, Việt Nam cũng hưởng lợi từ việc các công ty chuyển hướng đầu tư từ TC sang các nước khác, bao gồm cả Việt Nam.

Tóm lại, Việt Nam không có thái độ “thần phục” TC hay hoàn toàn cứng rắn với Hoa Kỳ. Chính sách “cây tre” của Việt Nam cho phép họ vừa hợp tác với các nước lớn, vừa bảo vệ được lợi ích quốc gia và không để bị chi phối quá mức bởi bất kỳ bên nào trong các mối quan hệ quốc tế quan trọng này.

Việt Nam không thể hiện thái độ lệch hẳn về phía nào, mà cần tiếp tục giữ chính sách “đối tác đa phương, không chọn phe”. Tuy nhiên, các truyền thông nhà nước đưa tin rất trang trọng về chuyến thăm, nhưng ít nhấn mạnh đến các tuyên bố cứng rắn về Biển Đông, điều mà trước đây Việt Nam thường làm để giữ khoảng cách với TC. Đó, một số nhà quan sát cho rằng Việt Nam đang “giữ ý” để theo dõi phản ứng của Mỹ và TC, chứ chưa vội nghiêng hẳn về phía nào, một hình thức “wait and see”. Vì vậy cho nên hoàn toàn không có thông cáo chung hay ký kết hợp tác…toàn diện như thuyền thông việt phổ biến một cách “hoành tráng” như sau các lần viếng thăm trước của TCB hày bất cứ một lãnh đạo TC nào viếng thăm Việt Nam.

Như vậy, tâm tư của tân TBT Tô Lâm như thế nào?

Hướng về HK để cởi trói, thoát khỏi bế tắc chính trị, kinh tế, và nhứt là áp lực của TC. Hay là thật lòng “giải ách” như hành động của Gorbachev của Liên Sô?

Tâm tư và đường lối chiến lược của ông Tô Lâm, người vừa trở thành Tổng Bí thư trong giai đoạn bước ngoặt của Việt Nam. So sánh ông với Gorbachev là một liên tưởng rất đáng suy nghĩ, vì cả hai đều bước vào vị trí quyền lực trong thời kỳ khủng hoảng toàn diện: kinh tế, chính trị và sức ép đối ngoại.

Dưới đây là phân tích về hai khả năng trên và những dấu hiệu hiện có:

  1. Tô Lâm có đang hướng về Hoa Kỳ để “cởi trói”?

Những dấu hiệu cho thấy có thể có: Ông là người trực tiếp tiếp đón TT Biden khi còn là Bộ trưởng Công an (2023), hiếm có một Bộ trưởng Công an nào đóng vai trò ngoại giao cao như vậy. Sau khi lên làm Tổng Bí thư (3/2025), chưa tỏ dấu hiệu chống Mỹ hay bài phương Tây, điều này khác với nhiều giai đoạn “chính trị nội bộ” của những Tân TBT trước đây. Việt Nam đang rơi vào bế tắc kinh tế vì tăng trưởng chậm, vốn FDI không nhận được như kỳ vọng, giới trẻ bất mãn, tầng lớp trung lưu mất niềm tin vào cải cách, và nhứt là mức thuế quan lên đến 146% áp đặt cho hàng nhập cảng từ Việt Nam. Việc xích lại gần Mỹ, Nhật, Âu Châu có thể là con đường khả thi để tìm cú hích kinh tế, đổi lấy “thế đứng mới” trước TC.

Tuy nhiên, vì Tô Lâm xuất thân từ công an, an ninh nội chính, nên bản năng vẫn là kiểm soát – ổn định – khép chặt hệ thống chứ không hẳn là người cải cách cấp tiến như Gorbachev. Có vài dấu hiệu cho thấy ông đang ưu tiên củng cố nội bộ trước khi tính chuyện đối ngoại tức là giữ hệ thống trước, đổi mới sau, nếu có.

  • Tô Lâm đang âm thầm “giải ách” theo mô hình Gorbachev?

So sánh với Mikhail Gorbachev, có vài điểm tương đồng và khác biệt:

  • Gorbachev từng là nhà cải cách trong đảng CS Nga;
  • Từng đưa ra chính sách Cải tổ – Perestroika, và Minh bạch – Glasnost;
  • Từng chấp nhận buông lỏng hệ thống để đổi lấy dân chủ hóa, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Sô.

Còn Tô Lâm là:

  • Người từ ngành công an nội chính, và bảo thủ;
  • Chưa hề công bố về cải cách chính trị hay :”cải cách chế độ”;
  • Ít thấy khả năng Tô Lâm “mở” hay chối bỏ quyền lực để đổi lấy dân chủ hóa Việt Nam!
  • Nếu Tô Lâm có ý “giải ách”, thì sẽ là một quá trình kiểm soát chặt chẽ, theo kiểu cải cách có định hướng để không làm lung lay chế độ như kiểu “kinh tế tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vậy.

Kết luận – Tâm tư thực sự của Tô Lâm là gì?

Khả năng cao nhất là ông ý thức rõ nguy cơ từ TC và tình trạng trì trệ trong nước, nên muốn đa phương hóa ngoại giao, xích lại gần Mỹ để tạo thế cân bằng, đồng thời giữ kiểm soát nội bộ vững chắc.

Tuy nhiên, vì ông không phải là Gorbachev, cho nên ông không chủ trương dân chủ hóa hay minh bạch toàn diện, và vì bản thân xuất thân từ an ninh khiến ông luôn ưu tiên sự ổn định chính trị ở Việt Nam trước. Nếu Việt Nam có thay đổi lớn, thì có lẽ sẽ diễn ra theo mô hình “Trung Đạo”, nghĩa là vừa cải cách kinh tế, vừa giữ chặt chính trị, giống như Trung Cộng thời Đặng Tiểu Bình, hơn là Liên Xô thời Gorbachev.

Dựa vào những công bố, hành vi và ngôn ngữ chính trị gần đây của TL  cho thấy ông đang mang tâm thế của một người “cân não” hơn là người “bật phá”. Ông không phải mẫu chính trị gia bộc trực như Nguyễn Tấn Dũng, hay mang tầm nhìn cải cách cấp tiến như Võ Văn Kiệt. Nhưng ông chính là người xuất thân từ hệ thống an ninh, vốn ưu tiên trật tự và kiểm soát hơn là tự do.

Tuy nhiên, ông không phải là một người giáo điều như thời Nguyễn Phú Trọng thuần túy, mà thực dụng, mềm dẻo và có khát vọng “để lại dấu ấn lịch sử”.

Có thể ông đang sống giữa hai tâm trạng, vừa muốn “an toàn”, ổn định hệ thống, vì đó là “phao cứu sinh” của ông, của cả nhóm chính trị đi theo ông; cũng như ông đã nhận ra được rằng hệ thống chính trị mà Việt Nam đang đi đã bước tới ngưỡng cửa tới hạn (threshold limit), và cần phải “xả van” có kiểm soát để … điều tiết những áp lực của xã hội.

Tâm trạng của ông là tâm trạng của một người mang gánh nặng: vừa lo chống đổ vỡ, vừa lo bị mắc kẹt trong thế giới cũ, cái vòng kim cô của xã hội chủ nghĩa “vô hình” và “không tưởng”.

Và Việt Nam chắc chắn rồi sẽ rẽ sang một bước ngoặt (turning point) lịch sử trong trong một tương lai không xa.

Mai Thanh Truyết

Viết cho 50 Năm Khát Vọng Tự Do

Houston – 4-2025

MỤC TIÊU THUẾ QUAN MỚI CỦA MỸ

Mục tiêu thuế quan mới của Mỹ Tổng thống Trump vừa tiến thêm một bước nữa trong việc áp thuế lên các mặt hàng nhập cảng chủ chốt khi tiến hành điều tra việc nhập cảng chip máy tính, thiết bị sản xuất chip và dược phẩm. 

Bộ Thương mại Mỹ hôm 14-4 đã đăng thông báo về cuộc điều tra này lên Công báo Liên bang và kêu gọi công chúng đóng góp ý kiến trong vòng 3 tuần.

Căn bản Bộ Thương mại Mỹ cho biết đang điều tra “việc nhập cảng chất bán dẫn và thiết bị sản xuất bán dẫn”, cũng như “dược phẩm và thành phần dược phẩm, bao gồm cả sản phẩm thuốc thành phẩm” tác động ra sao đối với an ninh quốc gia. Theo AP, mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962 cho phép tổng thống Mỹ ban hành thuế quan vì lý do an ninh quốc gia. 

Các cuộc điều tra theo Điều 232 cần phải được hoàn thành trong vòng 270 ngày kể từ khi bắt đầu. Cuộc điều tra mới nhất nói trên bắt đầu từ hôm 1-4.

TT Trump từ lâu xem việc sản xuất thuốc và chip ở nước ngoài là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia, đồng thời dọa sẽ áp thuế lên hàng nhập cảng nhằm khôi phục hoạt động sản xuất các sản phẩm này tại Mỹ. 

Việc giành chiến thắng trong cuộc đua toàn cầu nhằm thống trị ngành công nghiệp trí tuệ nhân tạo (AI)  cũng là một ưu tiên hàng đầu của chính quyền TT Trump.

Theo trang Axios, Tổng thống Trump hôm 13-4 cho biết sẽ công bố mức thuế áp dụng đối với chất bán dẫn nhập cảng trong tuần này, đồng thời nói thêm rằng sẽ có sự linh động đối với một số công ty trong ngành. 

Ngoài ra, khi được hỏi về kế hoạch áp thuế đối với dược phẩm, TT Trump cho biết bước đi này sẽ diễn ra “trong tương lai không xa”. Tổng thống Trump từ lâu xem việc sản xuất chip ở nước ngoài là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia. 

Mục tiêu thuế quan mới của Mỹ - Ảnh 1.

Trong ảnh là công trình xây nhà máy chất bán dẫn của hãng Intel ở tiểu bang Ohio – Mỹ hồi tháng 10-2024 Ảnh: AP

Tuy nhiên, giới phân tích cảnh báo việc áp thuế nói trên sẽ đe dọa gây xáo trộn các chuỗi cung ứng và đẩy chi phí đối với người dân Mỹ lên cao. Họ cũng cho rằng quá trình đưa sản xuất chip về Mỹ sẽ tốn nhiều thời gian và công sức. Ngành công nghiệp chip hiện có doanh số toàn cầu hơn 600 tỉ USD, cung cấp các loại chip đóng vai trò thiết yếu trong hàng loạt sản phẩm, từ xe hơi, máy bay đến điện thoại di động và thiết bị điện tử tiêu dùng. 

Thuế quan cũng sẽ giáng đòn mạnh vào các hãng dược phẩm lớn nhất thế giới vốn vận hành hàng loạt cơ sở sản xuất đặt rải rác khắp thế giới.

Sau khi TT Trump gần đây tuyên bố ngành điện tử sẽ không nằm trong số các lĩnh vực chịu mức thuế “có đi có lại”, Bộ trưởng Thương mại Mỹ Howard Lutnick giải thích trong một cuộc phỏng vấn với đài ABC News rằng dược phẩm, chất bán dẫn và xe hơi sẽ được áp dụng các mức thuế riêng theo từng ngành.

Ông Lutnick nhấn mạnh các mức thuế này sẽ không được đem ra đàm phán bởi chúng là một phần nỗ lực đưa trở lại sản xuất trong nước các mặt hàng chủ chốt liên quan đến an ninh quốc gia.

Dù vậy, ông chủ Tòa bạch ốc hôm 14-4 cho biết ông có thể tạm ngừng áp thuế đối với ngành công nghiệp xe hơi để các hãng xe có thêm thời gian điều chỉnh chuỗi cung ứng và chuyển hoạt động sản xuất về Mỹ. Khi công bố mức thuế 25% đối với xe  nhập cảng vào Mỹ hôm 27-3, ông Donald Trump từng nói đây là chính sách “lâu dài”. 

Trang Euronews nhận định với phát biểu mới nhất này, nhà lãnh đạo Mỹ cho thấy sẽ có thêm thay đổi về thuế quan trong bối cảnh ông đang tìm cách hạn chế những tác động kinh tế và chính trị tiêu cực có thể phát sinh từ chính sách của mình.Thông báo trên cũng cho thấy ông Donald Trump sẵn sàng đàm phán với giới lãnh đạo các ngành công nghiệp. Theo trang Bloomberg, các giám đốc điều hành trong lĩnh vực công nghệ và dược phẩm chắc chắn sẽ có bước đi này trong thời gian tới.

Thuế quan, cuộc chiến tự diệt

Khi Bạch Ốc công bố công thức tính thuế lên các quốc gia với các thang thuế khác nhau, người ta nhận ra đó chỉ là một một phép tính toán học căn bản, chẳng liên quan đến kinh tế học hay mậu dịch lẫn các dữ liệu thực tế nào cả. Chúng chỉ là những số liệu vô nghĩa và phi lý. Việt Nam không đánh thuế hàng Mỹ đến 90% và đảo hoang của những chú chim cánh cụt có liên quan gì đến giao thương.

Điều này thể hiện một đối sách vội vã, tự phụ và đầy cảm tính, cá nhân của Donald Trump nhằm tạo áp lực lên thế giới, buộc các nước tái cân bằng mậu dịch với Mỹ hơn là dựa trên nền tảng giao thương truyền thống qua các hiệp ước và định chế quốc tế. Hoặc nhỏ nhặt hơn, để trả thù những gì đã xảy ra trong quá khứ: Trump ra lệnh áp thuế cả những vật phẩm tâm linh từ Vatican đưa sang Mỹ như một thái độ với những gì đức Giáo Hoàng Francis từng bày tỏ.

Nhưng cuộc chiến thuế quan và mậu dịch không đơn giản như Donald Trump và các cố vấn của ông ta nghĩ. Chỉ một ngày sau khi tuyên bố “không thể thương lượng”, kể cả sau khi Việt Nam đồng ý giảm thuế nhập cảng hàng hóa Mỹ xuống còn zero, Trump đã phải tuyên bố “đình chiến” 90 ngày với các nước, ngoại trừ với Trung Quốc. 

Không bởi chỉ vì thị trường chứng khoán như bị rơi tự do sau “ngày giải phóng”, mà cả trái phiếu lẫn đồng đô la cũng bị rớt giá, điều hiếm xảy ra khi thị trường biến động. Mặt khác, nội các của Trump có thể cũng hiểu được là người dân Mỹ không đủ kiên nhẫn với một chính sách thuế quan sẽ gây ra lạm phát và đội giá hàng tiêu dùng tại Mỹ.

Mỹ là quốc gia giàu có, kinh tế lẫn văn hóa Mỹ là tiêu xài. Khoảng hơn hai phần ba kinh tế Mỹ đến từ mua sắm, tiêu xài và dịch vụ. Dưới thời Biden, người ủng hộ Donald Trump than van vật giá đắt đỏ, lạm phát tăng cao dù việc mua sắm, tiêu xài hay du lịch tăng cao mức kỷ lục.

Cứ lấy kỹ nghệ xe hơi làm ví dụ. Trong năm qua, dân Mỹ mua gần 16 triệu chiếc xe. Đây là mức tiêu thụ khổng lồ và là chỉ dấu của một nền kinh tế ổn định và phát triển.

Mỹ không cần phải sản xuất toàn bộ 16 triệu xe này, mà thị trường và người tiêu dùng quyết định mua xe nào họ thích, bất kể xe Mỹ hay xe nhập cảng. Đó là nền tảng của thị trường tự do và quy luật cung cầu. Miễn sao kinh tế phát triển và thị trường việc làm ổn định, cũng như thị trường chứng khoán tăng trưởng thì dân Mỹ sẽ tiếp tục tiêu thụ xe như vậy. Và như nguyên tắc vận hành kinh tế, nó sẽ tạo ra vô số công ăn việc làm cho dân Mỹ qua các dealer bán xe, vận chuyển và bến bãi xe, các tiệm bán phụ tùng, tiệm sửa chữa và bảo trì xe, rồi các ngân hàng, hãng tín dụng, cung cấp dịch vụ tài chính cho xe, kỹ nghệ bảo hiểm…

Như vậy, không cứ nhà máy sản xuất xe mới tạo ra công ăn việc làm liên quan đến xe hơi. Các kỹ nghệ khác cũng tương tự như vậy.

Donald Trump chỉ trích Nhật bản lẫn Nam Hàn đã không mua xe Mỹ trong khi Mỹ phải nhập hàng triệu chiếc mỗi năm. Đây là điều không liên quan đến công bằng mậu dịch hay giao thương, thuế quan. Nó là văn hóa và điều kiện sử dụng lẫn tâm lý tiêu dùng. Người Nhật chỉ chuộng xe nội địa khi 90 % dân Nhật chạy xe Nhật, với Toyota dẫn đầu thị trường, còn lại là Honda, Nisan và các hiệu xe khác. Mặt khác, xe Mỹ cồng kềnh, kiểu dáng lẫn chất lượng đều thua xe Nhật, lại không phù hợp với chỗ đậu và điều kiện giao thông (tay lái nghịch) nên không thích hợp với thị trường Nhật.

Nhật không bảo hộ mậu dịch vì đã từ lâu không còn áp thuế lên xe ngoại quốc nhập cảng bởi điều này không cần thiết, cũng như chính phủ muốn tạo điều kiện dễ dàng cho người dân có sở thích mua xe ngoại quốc. Có nhập cảng thì xe vào Nhật phần lớn là xe Đức chứ không phải xe Mỹ. Đòi hỏi các quốc gia phải cân bằng mậu dịch xem ra là điều không thể, như trường hợp xe Nhật đã dẫn.

Mỹ giàu có và sức tiêu thụ cao nên hàng nhập cảng nhiều, còn những quốc gia nghèo như Việt Nam, Lào, Campuchia… làm gì có khả năng tiêu xài như Mỹ khi đồng lương và giá nhân công quá thấp so với Mỹ để mua hàng và cân bằng mậu dịch. Có mấy quốc gia có sức tiêu thụ như Mỹ?

Thêm nữa, Donald Trump quên rằng việc giao thương với thế giới không chỉ là hàng hóa mà còn là dịch vụ mà Mỹ đã xuất cảng ra thế giới. Chưa kể những nguồn thu phi hàng hóa khác như tài chánh, điện ảnh, âm nhạc… Trong năm 2023, Mỹ đã xuất cảng 649 tỉ đô la nhu liệu và dịch vụ kỹ nghệ cao.

Đồng thời, sự “xuất cảng bản địa” cũng không được nhắc đến. Các tập đoàn tài chánh, khách sạn, hàng tiêu dùng của Mỹ mở chi nhánh hay hãng xưởng tại các quốc gia sở tại, dùng ngay nhân công bản địa giá rẻ để cung cấp dịch vụ, sản xuất hàng hóa cho chính thị trường đó. Cứ xem có bao nhiêu ngân hàng, khách sạn, nhà máy bia, thuốc lá, xà-bông, kem đánh răng… của Mỹ được sản xuất tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả ngay Việt Nam.   

Các quốc gia khác đã quá hiểu điều này nên Trung Quốc bắt đầu ra lệnh hạn chế phim ảnh Hollywood mà Trung Quốc là một thị trường to lớn của Mỹ, cũng như khối EU cảnh báo họ có thể áp thuế các hãng hi-tech trên lợi nhuận quảng cáo của Youtube, Facebook …tại các quốc gia trong khối, như một phần trong việc thương lượng thuế quan với Mỹ. Chưa kể về mặt tài chánh, các nước đang nắm giữ trái phiếu (bond) của Mỹ có thể lặng lẽ bán ra như đòn trả đũa, gây khủng hoảng cho thị trường tài chánh lẫn khoản nợ khổng lồ của nước Mỹ.

Chuyện dời sản xuất về Mỹ cũng thiếu thực tế và cần chọn lọc kỹ nghệ, ngành nghề. Bởi nước Mỹ đã qua thời kỹ nghệ sản xuất hàng tiêu dùng dành cho các nước đang phát triển mà tập trung vào kỹ nghệ cao, kỹ thuật nặng, máy móc tân tiến. Để các nước nghèo có nhân công rẻ sản xuất cho mình, vừa hưởng lợi vừa tiết kiệm chi phí. Mỹ đâu cần phải mở hãng giày, may quần áo, đóng bàn ghế hay đưa sản xuất lặt vặt về lại Mỹ. Thay vào đó, Mỹ cần buộc các hãng đưa các việc làm chuyên môn trong kỹ nghệ cao và các dịch vụ trở về Mỹ, khuyến khích các hãng Mỹ hay nhà đầu tư vào Mỹ muốn nhận được hợp đồng của chính phủ cần ưu tiên mướn dân Mỹ. Có như vậy thì thị trường việc làm mới luôn ổn định và tăng trưởng, kéo theo việc tiêu xài nhiều hơn và đưa kinh tế phát triển.

Tự do mậu dịch và kinh tế thị trường từ lâu là chính sách của đảng Cộng Hòa mà không ít dân biểu Cộng Hòa từng ủng hộ, hay chính J.D Vance cũng đã từng chỉ trích chính sách thuế quan của Donald Trump thời nhiệm kỳ đầu. Sự im lặng hay đổi chiều hiện nay không vì quyền lợi nước Mỹ lẫn chính sách họ từng ủng hộ mà chỉ để tung hô Donald Trump nhằm duy trì quyền lực chính trị của họ. Tuy nhiên có đang là vậy, điều nhiều phần sớm hay muộn sẽ xảy ra là, Trump tự tuyên bố đã chiến thắng và ngưng hay giảm chuyện thuế quan này.

Còn bằng tiếp tục, thì như chàng Narcissus trong thần thoại Hy Lạp, người cuối cùng đã chết bởi chính sự tự phụ và tự ái của mình, Donald Trump đang bắn vào nước Mỹ cùng chính người dân Mỹ trong cuộc chiến thương mại tự hủy diệt này.

Nhã Duy

Vietnam Center và cuộc ‘thay máu’ của một diễn đàn học thuật lịch sử

Triều Giang

Từ ngày 10 đến 12 Tháng Tư vừa qua, hội thảo thường niên về Chiến Tranh Việt Nam, do Trung Tâm Việt Nam và Lưu Trữ, thường được gọi là “Vietnam Center,” tổ chức tại đại học Texas Tech University, Lubbock, Texas, diễn ra với quy mô lớn nhất từ trước đến nay, nhân dịp đánh dấu 50 năm ngày kết thúc cuộc chiến đẫm máu này. Sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới học giả, các cựu chiến binh Hoa Kỳ, và cộng đồng người Việt hải ngoại. Với gần 180 diễn giả và người tham dự và hơn 100 bài tham luận phong phú, đa dạng cả về chủ đề lẫn góc nhìn, hội thảo năm nay được đánh giá là thành công vượt bậc.

Diễn giả và người tham dự hội thảo thăm Trung Tâm Việt Nam và Lưu Trữ, đại học Texas Tech University, Lubbock, Texas. (Hình: Facebook Alex Thai)

Đây không chỉ là một hội thảo mang tính học thuật đơn thuần, mà còn là minh chứng rõ nét cho một sự chuyển mình quan trọng. Diễn đàn từng bị chỉ trích là mang khuynh hướng thiên tả này đang từng bước được “thay máu” – không chỉ về thành phần diễn giả mà cả trong nội dung và định hướng lịch sử. Đặc biệt, phần thảo luận chính năm nay thẳng thắn nhìn nhận một sự thật đau lòng từng bị né tránh trong nhiều thập kỷ: Việt Nam Cộng Hòa bị bỏ rơi, và chính sự rút lui của Hoa Kỳ là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vào năm 1975.

Những thăng trầm của Vietnam Center

Phải nhìn nhận rằng, Vietnam Center đã trải qua một hành trình đầy thăng trầm. Trung tâm này do Tiến Sĩ James Reckner, một cựu binh chiến tranh Việt Nam và là giáo sư đại học Texas Tech University, sáng lập năm 1989. Mục tiêu ban đầu của trung tâm là thu thập và lưu trữ các tài liệu về chiến tranh Việt Nam. Nhưng hơn cả một trung tâm lưu trữ, đây còn là nơi tạo ra các cuộc đối thoại học thuật giữa các cựu chiến binh, học giả, và những người ủng hộ và phản đối chiến tranh.

Thế nhưng, trong suốt những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, Vietnam Center từng bị không ít người công kích và tẩy chay – trong đó có chính những cựu chiến binh từng ủng hộ sáng lập trung tâm – vì khuynh hướng thiên tả, đồng cảm với phe phản chiến, lên án cuộc chiến tự vệ của miền Nam Việt Nam, và thiếu tiếng nói đại diện cho VNCH và cộng đồng người tị nạn.

“Thay máu” từ giới trẻ và cộng đồng người Việt

Tuy nhiên, mọi thứ dần thay đổi trong khoảng một thập niên trở lại đây. Sự xuất hiện của các học giả trẻ người Mỹ gốc Việt như các giáo sư Tường Vũ, Nữ Anh Trần, Tuấn Hoàng, Trịnh Lưu, và đặc biệt là Alex-Thái Đình Võ – hiện là một nhà nghiên cứu tại Vietnam Center – đã mang đến một luồng sinh khí mới. Họ là những học giả có tâm và có khả năng chuyên môn, nghiên cứu sâu về VNCH, đời sống người tị nạn, và các vấn đề hậu chiến dưới góc nhìn nhân bản và trung thực, thay vì bị lập trường chính trị cũ kỹ mang tính cách tuyên truyền chi phối.

Năm nay, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ (US-Vietnam Research Center) thuộc đại học University of Oregon tiếp tục gửi phái đoàn hùng hậu đến hội thảo, như một tuyên bố rõ ràng về cam kết lâu dài trong việc tái định hình không gian học thuật về lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Bên cạnh đó, sự tham gia lần đầu tiên của các thành viên trong Phong Trào Hưng Ca Việt Nam đã để lại ấn tượng sâu sắc. Với những bài tham luận dũng cảm cùng phần trình diễn các ca khúc đấu tranh lịch sử. Họ không chỉ mang âm nhạc, mà còn mang theo tinh thần chiến dấu và khát vọng tự do đến tận trái tim của hội trường. Một số khán giả người Mỹ, sau khi nghe họ hát và thuyết trình, đã không khỏi xúc động trước sức sống và sự kiên cường của người Việt tị nạn.

Giáo Sư Tường Vũ và một tài liệu của chính quyền VNCH tại Trung Tâm Việt Nam và Lưu Trữ, đại học Texas Tech University, Lubbock, Texas. (Hình: Facebook Alex Thai)

Sự trở lại của những tiếng nói trung thực

Một điểm sáng khác của hội thảo năm nay là sự trở lại của những học giả và nhân vật từng tuyên bố tẩy chay Vietnam Center nhiều năm, như Giáo Sư Robert F. Turner, người từng làm việc tại Tòa Bạch Ốc và Quốc Hội Mỹ thời Chiến Tranh Việt Nam; cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Richard Armitage, từng tham chiến tại Việt Nam trong vai trò sĩ quan Hải Quân; và ông Steve Sherman, thành viên sáng lập tổ chức Vietnam Veterans for Factual History (VVFH).

Họ trở lại không chỉ để phát biểu mà còn để cổ vũ một diễn đàn đang dần khôi phục lại tính khách quan, cân bằng, và – quan trọng nhất – trả lại tiếng nói cho một phía từng bị lịch sử Mỹ và các nhà viết sử bỏ quên: Việt Nam Cộng Hòa.

Ông Steve Sherman trong bài phát biểu của mình đã nhấn mạnh rằng: “Chúng ta không thể để những người từng hy sinh, những đồng minh trung thành và những người dân đã bỏ nước ra đi, bị xóa tên khỏi ký ức tập thể. Sự thật không nên có màu sắc chính trị.”

Thách thức mới: Hội thảo lần tới sẽ tổ chức ở Việt Nam?

Dù sự thay đổi tại Vietnam Center là điều đáng mừng, nhưng vẫn còn đó những lo ngại. Đặc biệt, tuyên bố của giám đốc Vietnam Center về việc sẽ tổ chức hội thảo cho năm 2026 tại Việt Nam làm dấy lên nhiều tranh luận.

Chúng tôi đã đặt câu hỏi cho Giáo Sư Tường Vũ về vấn đề này. Ông thẳng thắn trả lời: “Tôi không biết sẽ có bao nhiêu người Mỹ và Việt hải ngoại có thể tham dự, vì ngoại trừ những diễn giả chính được tài trợ, phần lớn đều phải tự túc kinh phí. Mặt khác, liệu trong môi trường hiện nay tại Việt Nam, người phát biểu có thể nói thật lòng hay phải e ngại về vấn đề an ninh và kiểm duyệt?”

Đây cũng là nỗi băn khoăn chung của nhiều người: Một hội thảo về chiến tranh Việt Nam có thể thật sự khách quan khi tổ chức trong nước – nơi mà tự do học thuật còn là khái niệm xa lạ?

Quang cảnh một buổi hội thảo về Chiến Tranh Việt Nam tổ chức tại Trung Tâm Việt Nam và Lưu Trữ, đại học Texas Tech University, Lubbock, Texas, từ ngày 10 đến 12 Tháng Tư. (Hình: Facebook Alex Thai)

Chặng đường còn dài nhưng không đơn độc

Từ những ngày đầu bị xem là diễn đàn thiên tả, đến nay, Vietnam Center đã cho thấy sự chuyển mình. Có thể nói, đây là một thắng lợi tinh thần lớn cho cộng đồng VNCH và người Việt tị nạn sau nhiều năm đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ sự thật lịch sử.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh này chưa thể dừng lại. Bởi vì các nguồn tài liệu, phim ảnh, và sách vở từ phía phản chiến, thiên tả – cũng như bộ máy tuyên truyền của chính quyền cộng sản – vẫn tiếp tục hoạt động không ngừng nghỉ.

Chúng ta cần nhiều hơn nữa những học giả can đảm, những cộng đồng gốc Việt có trách nhiệm với lịch sử của chính mình, và những diễn đàn công khai để kể lại những trang sử bị bóp méo.

Vietnam Center hôm nay có thể đã được “thay máu,” nhưng cần tiếp tục được “nuôi máu” – bằng sự tiếp sức của cộng đồng, của thế hệ mới, và của những người không muốn để kẻ mạnh viết lịch sử. [đ.d.]

Số ca bệnh sởi tại Mỹ đạt 800 ca trên 24 bang

Đợt bùng phát bệnh sởi tại Mỹ đã ghi nhận 800 ca nhiễm đã được xác nhận trên 24 bang, theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) vào thứ Sáu. Cập nhật mới nhất cho thấy có thêm 88 ca nhiễm so với tuần trước, đánh dấu một xu hướng đáng lo ngại trong năm 2025, theo các quan chức y tế.

Đợt bùng phát hiện tại đã khiến hai người thiệt mạng, và một trường hợp tử vong khác đang được điều tra, theo các quan chức y tế của tiểu bang. Sự gia tăng số ca bệnh hiện tại gần gấp ba lần tổng số ca được ghi nhận trong năm 2024, khi quốc gia này chỉ có 285 ca.

Nếu số ca bệnh năm nay tiếp tục tăng trưởng với tốc độ hiện tại, Mỹ có thể vượt qua tổng số 1.274 ca của năm 2019, có thể đạt mức cao nhất kể từ năm 1992, theo dữ liệu.

Hiện tại, sáu bang đang đối mặt với các đợt bùng phát lớn, được định nghĩa là có ba ca bệnh liên quan trở lên: Texas, New Mexico, Ohio, Kansas, Indiana và Michigan.

Virus này đã xuất hiện tại 24 bang, bao gồm Alaska, Arkansas, California, Colorado, Florida, Georgia, Hawaii, Kentucky, Maryland, Minnesota, New Jersey, New York, Oklahoma, Pennsylvania, Rhode Island, Tennessee, Vermont và Washington.

Các quan chức y tế cho biết 96% số ca bệnh năm nay là ở những người chưa tiêm vắc-xin hoặc có tình trạng tiêm chủng không rõ ràng.

Sự gia tăng số ca này đang đe dọa đến tình trạng loại bỏ bệnh sởi của quốc gia, tình trạng này đã đạt được vào năm 2000 khi Mỹ không ghi nhận sự lây lan liên tục trong 12 tháng. Đợt bùng phát hiện tại, bắt đầu từ Texas vào tháng 1, có thể làm nguy hại đến tình trạng này nếu kéo dài hơn một năm.

CDC lưu ý rằng các số liệu báo cáo có thể chưa phản ánh đầy đủ quy mô thực sự của đợt bùng phát do sự chậm trễ trong việc báo cáo.

Sởi là một bệnh nhiễm trùng do virus gây ra, lây lan qua ho và hắt hơi. Theo CDC, virus có thể tồn tại trong không khí lên đến hai giờ sau khi một người nhiễm bệnh rời khỏi phòng.

Các triệu chứng ban đầu thường bao gồm sốt cao, ho, chảy mũi và mắt đỏ. Phát ban đặc trưng xuất hiện từ ba đến năm ngày sau khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Một người có thể lây truyền virus từ bốn ngày trước và bốn ngày sau khi phát ban.

CDC nhấn mạnh rằng vắc-xin sởi, quai bị, rubella (MMR) có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa nhiễm bệnh, với hai liều vắc-xin có hiệu quả 97% chống lại virus. Trẻ em nên nhận liều đầu tiên khi được 12 đến 15 tháng tuổi và liều thứ hai từ 4 đến 6 tuổi.

Việc đi lại quốc tế của những người chưa tiêm vắc-xin từ lâu đã là một yếu tố quan trọng trong việc đưa bệnh sởi vào Mỹ. CDC khuyến nghị tất cả những người đi du lịch nước ngoài nên được tiêm đầy đủ vắc-xin sởi trước khi khởi hành, bất kể điểm đến của họ là đâu.

Nguồn abc news

Trump biến trang web COVID-19 thành công cụ quảng bá giả thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm

Một trang web liên bang từng cung cấp thông tin về vắc-xin, xét nghiệm và điều trị COVID-19 đã được chuyển đổi thành trang ủng hộ giả thuyết đại dịch bắt nguồn từ rò rỉ phòng thí nghiệm.

Trang web covid.gov hiện hiển thị hình ảnh cựu Tổng thống Donald Trump đi giữa hai từ “lab” (phòng thí nghiệm) và “leak” (rò rỉ), dưới tiêu đề của Tòa Bạch Ốc. Trang này đề cập rằng Vũ Hán, Trung Quốc — nơi virus corona bắt đầu lây lan — là nơi đặt một phòng thí nghiệm có lịch sử nghiên cứu virus nhưng “mức độ an toàn sinh học không đầy đủ”.

Trang web cũng cáo buộc Tiến sĩ Anthony Fauci, cựu Giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia, đã thúc đẩy một “câu chuyện thiên lệch” rằng COVID-19 có nguồn gốc tự nhiên.

Hiện vẫn chưa có bằng chứng xác thực về nguồn gốc của COVID-19. Các nhà khoa học chưa thể khẳng định virus này lây từ động vật sang người — như nhiều virus khác — hay do một tai nạn trong phòng thí nghiệm. Một bản phân tích tình báo Mỹ công bố năm 2023 cho biết không có đủ bằng chứng để chứng minh giả thuyết nào là đúng.

Việc các trang web của chính phủ được thay đổi giao diện giữa các nhiệm kỳ tổng thống là điều thường thấy, nhưng lần thay đổi này được cho là toàn diện hơn bình thường. Dữ liệu y tế công cộng đã bị gỡ bỏ, đặc biệt là những thông tin liên quan đến người chuyển giới. Các hình ảnh của Bộ Quốc phòng, vốn tôn vinh sự đa dạng, công bằng và hòa nhập, đã bị gỡ bỏ.

Trước đây, trang covid.gov cung cấp thông tin về cách đặt hàng bộ xét nghiệm COVID miễn phí, khuyến khích người dân tiêm vắc-xin mới nhất với thông điệp đây là “cách tốt nhất để bảo vệ bạn và những người thân yêu”. Trang này cũng hướng dẫn cách tiếp cận điều trị ngay khi mắc bệnh và cung cấp liên kết tìm hiểu thêm về hội chứng hậu COVID (long COVID).

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), trung bình trong bốn tuần qua, khoảng 325 người Mỹ tử vong mỗi tuần vì COVID-19. Tính đến ngày 5 tháng 4, chưa đến 25% người trưởng thành tại Mỹ đã tiêm vắc-xin COVID. Hàng triệu người trên toàn thế giới đang sống chung với hậu COVID, với hàng chục triệu chứng khác nhau như mệt mỏi kéo dài và suy giảm nhận thức (hay còn gọi là “sương mù não”).

Nguồn AP

Chính quyền Trump sẽ cắt giảm 90% CFPB trong đợt sa thải mới nhất

( The Hill ) — Chính quyền của Tổng thống Donald Trump đang cắt giảm gần 90 phần trăm nhân viên của Cục Bảo vệ Tài chính Người tiêu dùng (CFPB) nhằm mục đích giảm đáng kể quy mô của cơ quan giám sát được thành lập để bảo vệ người tiêu dùng Hoa Kỳ khỏi gian lận và lạm dụng tài chính. 

Khoảng 1.500 nhân viên của cơ quan này dự kiến ​​sẽ bị cắt giảm, nhiều hãng tin đưa tin vào thứ năm. Điều đó sẽ khiến khoảng 200 người tại cơ quan này tiếp tục làm việc.

Các nhân viên bắt đầu nhận được thông báo sa thải vào thứ năm. 

“Cục Bảo vệ Tài chính Người tiêu dùng xác định vị trí của bạn đã bị xóa bỏ và việc làm của bạn sẽ bị chấm dứt theo các thủ tục cắt giảm biên chế (RIF)”, theo email gửi cho một nhân viên CFPB, được The Associated Press xem xét.

Quyền Giám đốc CPPB Russ Vought cho biết trong một thông báo mà Politico đã xem , rằng việc cắt giảm là “cần thiết để tái cấu trúc hoạt động của Cục nhằm phản ánh tốt hơn các ưu tiên và sứ mệnh của cơ quan”.

Việc cắt giảm này là sự tiếp nối nỗ lực của chính quyền hiện tại nhằm sửa đổi hình thức và phạm vi hoạt động của chính quyền liên bang. 

Cơ quan giám sát này, được thành lập sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, từ lâu đã nằm trong tầm ngắm của các nhà lập pháp đảng Cộng hòa, tỷ phú công nghệ Elon Musk và những nhân vật có tầm ảnh hưởng ở Phố Wall, với lập luận rằng các cuộc điều tra của CFPB có thái độ quá thù địch với các tổ chức cho vay và ngân hàng. 

Tháng trước, một thẩm phán đã phán quyết rằng CFPB phải được khôi phục và tạm thời chính quyền không thể cắt giảm lực lượng lao động. Một tòa phúc thẩm đã phán quyết vào thứ sáu tuần trước rằng chính quyền có thể sa thải nhân viên nhưng không thể chấm dứt toàn bộ cơ quan. 

Thượng nghị sĩ Elizabeth Warren (D-Mass.), đảng viên Dân chủ cấp cao tại Ủy ban Ngân hàng Thượng viện, trước đây đã chỉ trích Musk và Vought vì nỗ lực giải thể cơ quan này. 

“Vậy, tại sao hai gã này lại cố gắng phá hoại CFPB?” Warren nói vào tháng 2. “Không phải là khoa học tên lửa: Trump vận động tranh cử để giúp đỡ những người lao động, nhưng giờ ông ta đã nắm quyền, đây là phần thưởng cho những gã giàu có đã đầu tư vào chiến dịch của ông ta và muốn lừa đảo các gia đình — và không có ai xung quanh để ngăn cản họ.”

Ny (Tgeo The Hill)

Gary Shapley thôi việc ủy viên IRS sau 2 ngày, trong cuộc đấu tranh liên quan đến Elon Musk

Giám sát viên của IRS nổi tiếng vì lên tiếng về cáo buộc ảnh hưởng chính trị trong cuộc điều tra thuế của Hunter Biden đã tuyên thệ nhậm chức quyền ủy viên của cơ quan này, tuy nhiên Gary Shapley đã thôi việc chỉ hai ngày sau khi được bổ nhiệm làm ủy viên IRS tạm thời .

Shapley là người đầu tiên trong số hai người tố giác IRS đưa vụ việc này ra trước quốc hội. Biden cuối cùng đã nhận tội về tội trốn thuế và 
được cha mình ân xá . Họ cáo buộc Bộ Tư pháp “chậm chạp” trong cuộc điều tra và chỉ thị họ không theo đuổi các đầu mối liên quan đến Joe Biden. Họ đã bị loại khỏi vụ án và tạm thời bị cho ra rìa với mức lương.  

Shapley được trao chức vụ cao nhất của IRS khi ứng cử viên của Tổng thống Trump, Billy Long, đang chờ Thượng viện phê chuẩn. Trong khi đó, Long, cựu dân biểu đến từ Missouri, đã phải đối mặt với nhữngnghi ngờ về trình độ của mình. 

Khoảng thời gian 48 giờ ông lãnh đạo công ty mà ông đã dành phần lớn sự nghiệp của mình đã bị đánh dấu bằng cuộc đấu tranh nội bộ liên quan đến tỷ phú Elon Musk, người đã ủng hộ Shapley đảm nhận công việc này.

Việc bổ nhiệm Shapley vào vị trí cao nhất của cơ quan này đã gây ra một loạt các cuộc thảo luận ngầm. Các nguồn tin nói rằng họ tập trung vào vai trò của Musk trong việc bỏ qua thẩm quyền của Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent để đưa Shapley – người nổi tiếng nhất vì đã lên tiếng về cáo buộc ảnh hưởng chính trị trong cuộc điều tra thuế của Hunter Biden – vào vị trí này.

Theo nhiều nguồn tin, Bessent đã phàn nàn với Tổng thống Trump rằng Shapley được bổ nhiệm theo sự thúc giục của Musk và tìm kiếm sự chấp thuận của ông Trump để hủy bỏ quyết định này.

Thứ trưởng Tài chính Michael Faulkender – người hiện là quyền giám đốc cơ quan này, một phát ngôn viên của Bộ Tài chính xác nhận – cũng lên tiếng bày tỏ lo ngại về việc bổ nhiệm Shapley, và Bessent đứng về phía Faulkender, nhiều nguồn tin cho biết.

Tờ New York Times là tờ báo đầu tiên đưa tin về việc Shapley bị phế truất vào thứ sáu.

Bessent lên tiếng ủng hộ việc bổ nhiệm Faulkender trong một bài đăng trên mạng xã hội vào chiều thứ sáu, nói rằng “phải lấy lại niềm tin cho IRS” và gọi Faulkender là “người phù hợp vào thời điểm này”.

Các nguồn tin cho biết Shapley dự kiến ​​sẽ tiếp tục làm cố vấn cho Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent. Bessent cũng xác nhận rằng Shapley sẽ tiếp tục làm việc tại Bộ Tài chính.

Bessent viết: “Niềm đam mê và sự chu đáo của Gary Shapley trong việc tìm ra những cách thức tạo ra những cải cách bền vững và lâu dài tại IRS là điều cần thiết cho công việc của chúng tôi, và ông vẫn là một trong những cố vấn cấp cao quan trọng nhất của tôi”.

Shapley được đưa lên vị trí đứng đầu IRS trong khi người được Tổng thống Trump chọn cho vị trí này, Billy Long, đang chờ Thượng viện xác nhận. Long, cựu dân biểu đến từ Missouri, đã phải đối mặt với những câu hỏi về trình độ của mình.

Cựu giám sát viên tại cơ quan này, Shapley trở nên nổi tiếng sau khi lên tiếng về vụ án thuế của Hunter Biden. Shapley là một đặc vụ giám sát trong năm thứ 14 làm việc tại IRS khi ông lên tiếng trong một cuộc phỏng vấn năm 2023 với phóng viên điều tra trưởng của CBS News Jim Axelrod. Ông cáo buộc những nghi ngờ nội bộ về áp lực không phù hợp để dễ dãi với con trai của cựu Tổng thống Joe Biden.

Shapley là một trong hai người tố giác của IRS ra làm chứng trước Quốc hội về những nghi ngờ bị cáo buộc trong cuộc điều tra Hunter Biden. Các đặc vụ IRS cáo buộc Bộ Tư pháp đã “chậm chạp” trong cuộc điều tra và yêu cầu họ không điều tra các manh mối liên quan đến Joe Biden. Họ đã bị loại khỏi vụ án và tạm thời bị cho ra rìa với mức lương. Hunter Biden sau đó đã nhận tội về các tội danh thuế và được cha mình ân xá . 

Shapley và một đặc vụ khác cho biết họ đã phải đối mặt với sự trả thù sau khi tố cáo Quốc hội và lên tiếng với CBS News về cuộc điều tra của họ đã giữ được các vị trí cấp cao trong chính quyền Trump. Shapley ban đầu được giao cho văn phòng của Bessent với tư cách là cố vấn cấp cao về cải cách IRS, và sau đó được bổ nhiệm làm phó giám đốc điều tra hình sự tại cơ quan này.

Ny (Theo CBS News)