Chuyến công du Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn từ ngày 11 đến 15 tháng 10 năm 2026 không chỉ nhằm thắt chặt mối bang giao giữa Hà Nội và Bắc Kinh, mà còn cho thấy Trung Quốc vẫn giữ một vị trí đặc biệt trong đường lối ngoại giao của Việt Nam. Giữa những ràng buộc về ý thức hệ, quyền lợi kinh tế và cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, Hà Nội sẽ xoay xở ra sao để vừa giữ quan hệ với người láng giềng khổng lồ, vừa bảo vệ quyền tự chủ của mình?…
Ngày 11 tháng 10 năm 2026, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đến Bắc Kinh- Trung Quốc, khởi đầu chuyến viếng thăm chính thức kéo dài đến ngày 15 tháng 10, theo lời mời của ông Triệu Lạc Tế, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc. Đây là chuyến công du Trung Quốc đầu tiên của ông Mẫn trên cương vị Chủ tịch Quốc hội. Trọng tâm chuyến đi là đồng chủ tọa phiên họp lần thứ hai của Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc. Tháp tùng ông Mẫn có Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Hoài Trung, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cùng nhiều viên chức phụ trách các lãnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Theo lời giới thiệu chính thức, chuyến đi nhằm củng cố lòng tin chính trị và thúc đẩy sự hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp.
Ngay trong ngày đầu tiên tại Bắc Kinh, ông Trần Thanh Mẫn đã hội kiến ông Vương Hộ Ninh, Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc, tại Đại lễ đường Nhân dân. Hai bên nhận định bang giao Việt–Trung tiếp tục tiến triển, đồng thời nhấn mạnh việc duy trì những cuộc tiếp xúc cấp cao và đẩy mạnh hợp tác kinh tế, mậu dịch cùng đầu tư. Cùng ngày, ông Mẫn đến tìm hiểu mô hình điểm liên lạc lập pháp Nam Ma Phòng tại quận Triều Dương, đồng thời trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan Nhân đại ba cấp của thành phố Bắc Kinh. Những hoạt động này cho thấy chuyến đi không chỉ có tính cách nghi lễ ngoại giao, mà còn nhằm trao đổi kinh nghiệm về việc làm luật, giám sát và tổ chức sinh hoạt của các cơ quan dân cử. Trong những ngày kế tiếp, điểm đáng chú ý là phiên họp hợp tác nghị viện với phía Trung Quốc, do ông Trần Thanh Mẫn và ông Triệu Lạc Tế đồng chủ tọa.
Đằng sau những cuộc tiếp xúc chính trị là mối bang giao kinh tế ngày càng chặt chẽ. Theo các số liệu được công bố, kim ngạch mậu dịch Việt–Trung trong năm 2025 lên tới 256,4 tỷ Mỹ kim, tăng 24,8% so với năm trước. Trong tám tháng đầu năm 2026, con số này đạt 216,1 tỷ Mỹ kim, tăng 35,2% so với cùng kỳ. Trung Quốc tiếp tục là đối tác mậu dịch lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là nguồn cung cấp quan trọng về máy móc, thiết bị, nguyên liệu và hàng hóa phục vụ sản xuất. Hai bên cũng xúc tiến việc nối kết đường sắt, vận chuyển hàng hóa, cửa khẩu thông minh và hợp tác kinh tế vùng biên giới. Tuy nhiên, mậu dịch tăng trưởng nhanh cũng đi kèm tình trạng Việt Nam nhập siêu lớn từ Trung Quốc. Vì vậy, vấn đề không chỉ là làm sao gia tăng kim ngạch mua bán, mà còn phải nâng cao khả năng sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất cảng và giảm bớt sự lệ thuộc quá mức vào một nguồn cung duy nhất.
Về phương diện chính trị, Việt Nam và Trung Quốc có một điểm tương đồng quan trọng: cả hai đều do đảng cộng sản lãnh đạo và thường xuyên nhấn mạnh vai trò của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, Bắc Kinh có một vị trí đặc biệt trong sự tính toán ngoại giao của Hà Nội, không chỉ vì quy mô kinh tế và sức mạnh quân sự, mà còn do mối quan hệ giữa hai đảng cầm quyền.
Trong cách nhìn của một bộ phận dư luận, Trung Quốc vẫn được xem như nước có vai vế lớn trong số những quốc gia còn duy trì chế độ cộng sản. Mặc dù, trên văn bản ngoại giao, Hà Nội và Bắc Kinh nhấn mạnh quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và chủ trương xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, gần gũi về chính trị không có nghĩa quyền lợi của hai bên lúc nào cũng giống nhau. Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông vẫn là vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và dư luận Việt Nam. Hà Nội phải duy trì đối thoại với Bắc Kinh, nhưng đồng thời cũng phải bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình căn cứ theo luật pháp quốc tế. Đây là một giới hạn quan trọng đối với bất cứ nhận định nào cho rằng Việt Nam có thể hoàn toàn đi theo đường lối của Trung Quốc. Mối quan hệ giữa hai nước vì thế vừa có sự hợp tác, vừa tồn tại những bất đồng chiến lược không dễ giải quyết trong một sớm một chiều.
Bài toán quân bình ngoại giao do đó vẫn giữ vai trò then chốt. Việt Nam cần duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc để bảo đảm mậu dịch, chuỗi cung ứng và an ninh vùng biên giới. Nhưng Hà Nội cũng cần Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Liên hiệp Âu Châu và những đối tác khác để thu hút đầu tư, tiếp nhận kỹ thuật, mở rộng thị trường xuất cảng và nâng cấp năng lực sản xuất. Chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ là nền tảng để Việt Nam tránh bị cuốn hoàn toàn vào cuộc tranh chấp ảnh hưởng giữa các cường quốc.
Chuyến công du của ông Trần Thanh Mẫn vì thế vừa là một bước củng cố bang giao với Bắc Kinh, vừa đặt ra câu hỏi lớn hơn về khả năng bảo vệ không gian tự chủ của Việt Nam. Kết quả thực tế không thể chỉ được đo bằng những lời tuyên bố hữu nghị hay số cuộc hội kiến cấp cao, mà còn phải căn cứ vào tiến triển trong hợp tác nghị viện, hiệu quả của những dự án nối kết giao thông, khả năng giải quyết bất đồng và mức độ quân bình quyền lợi kinh tế, an ninh trong quan hệ với các đối tác lớn. Đối với Hà Nội, giữ quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc là điều cần thiết; nhưng duy trì quyền tự quyết trong đường lối ngoại giao mới là đòi hỏi có ý nghĩa lâu dài.
NGƯỜI QUAN SÁT



