Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt giới “chop bu” CSVN ký ban hành Nghị quyết số 23, nhấn mạnh chủ trương đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ và hướng tới tương lai. Tuy nhiên, hai chữ hòa hợp và cách thức biến những lời kêu gọi ấy thành hành động cụ thể vẫn đang là dấu hỏi ? …
Theo nội dung nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị CSVN, cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới được xác định là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đồng thời được xem là nguồn lực quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Việt Nam. Văn kiện cho biết sau hơn 20 năm thực hiện các chính sách liên quan đến người Việt ở nước ngoài, cộng đồng kiều bào ngày càng phát triển, đời sống của nhiều người được cải thiện, số lượng chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng gia tăng.
Nghị quyết cũng ghi nhận hiện có nhiều người Việt Nam ở nước ngoài giữ những vị trí quan trọng trong lãnh vực khoa học, kinh tế, chính trị và xã hội tại quốc gia sở tại. Chính vì vậy, Bộ Chính trị CSVN nhấn mạnh việc cần xây dựng thêm những chính sách nhằm kết nối, thu hút và phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, văn kiện cũng nhìn nhận vẫn còn những khó khăn tồn tại. Một bộ phận người Việt ở nước ngoài còn có những nhận thức khác biệt, chưa đồng thuận với một số quan điểm trong nước. Bên cạnh đó, tại một số quốc gia, cộng đồng người Việt vẫn gặp trở ngại về địa vị pháp lý, điều kiện sinh sống và khả năng hội nhập. Việc tận dụng nguồn lực của kiều bào cho sự phát triển chung cũng chưa đạt được mức kỳ vọng.
Bộ Chính trị CSVN cho biết chủ trương hiện nay là tăng cường lắng nghe ý kiến đóng góp, kể cả những quan điểm khác biệt nếu không gây phương hại đến lợi ích quốc gia. Đồng thời, các cơ quan liên hệ được yêu cầu quan tâm hơn đến tâm tư, nguyện vọng của người Việt ở nước ngoài, giải quyết những quyền lợi hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong các vấn đề như quốc tịch, nhà ở, đầu tư và thủ tục hành chánh.
Một trong những điểm được nhấn mạnh là thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lãnh vực mới như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học và đổi mới sáng tạo. Chính sách mới cũng hướng tới việc tạo môi trường để các doanh nhân, chuyên gia và trí thức người Việt ở nước ngoài có thể tham gia đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng mạng lưới kinh doanh và đóng góp vào sự phát triển kinh tế.
Ngoài ra, nghị quyết còn đề cập đến việc bảo đảm an toàn, quyền lợi và địa vị pháp lý của cộng đồng người Việt tại nước ngoài, phối hợp với chính quyền sở tại trong những trường hợp cần thiết, nhất là khi xảy ra những hoàn cảnh khó khăn hoặc tình huống khẩn cấp. Song song đó, việc duy trì tiếng Việt, gìn giữ văn hóa truyền thống và tăng cường sự gắn bó giữa cộng đồng người Việt ở hải ngoại với quê hương cũng được đặt ra.
Tuy nhiên, đối với nhiều người Việt ở hải ngoại, đặc biệt là những người từng trải qua biến cố lịch sử sau năm 1975, khái niệm hòa hợp dân tộc vẫn còn là một vấn đề nhiều suy tư. Những lời kêu gọi xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ đang đặt ra câu hỏi rằng liệu sự hòa hợp ấy có được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống xã hội hay chỉ dừng lại ở những văn bản chính sách.
Một trong những vấn đề thường được nhắc đến là hoàn cảnh của những thương phế binh thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và một số gia đình từng đứng ở phía đối nghịch trong cuộc chiến trước đây. Nhiều ý kiến cho rằng nếu CSVN thật sự muốn xây dựng tinh thần hòa hợp, thì cần bắt đầu từ sự công bằng và lòng nhân ái đối với người dân trong nước, với tất cả những người đã chịu ảnh hưởng bởi lịch sử, bất kể nguồn gốc hay quá khứ của họ.
Những người đưa ra quan điểm này cho rằng việc xóa bỏ định kiến không chỉ là lời kêu gọi dành cho cộng đồng ở nước ngoài, mà trước hết phải được thể hiện ngay trong đời sống xã hội ngay tại Việt Nam nơi mà CSVN đang nắm quyền. Theo họ, một xã hội muốn hướng tới tương lai cần có sự nhìn nhận rộng mở hơn đối với những khác biệt về quá khứ, lý lịch gia đình và quan điểm cá nhân.
Bên cạnh đó, cũng có những ý kiến đặt câu hỏi về sự nhất quán giữa việc kêu gọi thu hút chất xám, nguồn lực của kiều bào với việc tháo gỡ những rào cản tâm lý và xã hội đối với những người từng có hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Họ cho rằng hòa hợp dân tộc không chỉ nằm ở việc mời gọi đầu tư hay hợp tác kinh tế, mà còn phải được xây dựng trên nền tảng của sự tôn trọng, bình đẳng và niềm tin.
Sau cùng, nghị quyết về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã đưa ra nhiều mục tiêu lớn liên quan đến đoàn kết, phát triển và kết nối cộng đồng. Nhưng để tinh thần hòa hợp dân tộc thực sự đi vào đời sống, điều quan trọng nhất vẫn là những hành động cụ thể, minh bạch và công bằng.
Bởi hòa hợp không thể chỉ được đo bằng những lời tuyên bố, mà phải được chứng minh bằng cách đối xử với con người trong thực tế. Chỉ khi những khác biệt của quá khứ được nhìn nhận bằng sự bao dung và tôn trọng, hai chữ hòa hợp mới có thể trở thành một giá trị chung được mọi người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới tin tưởng.
NGƯỜI QUAN SÁT



