CaliToday News – Người lao động Mỹ không có bằng đại học đang trải qua một trong những thị trường việc làm tốt nhất trong nhiều thập kỷ. Theo phân tích từ viện nghiên cứu Burning Glass Institute, tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 22 đến 34 tuổi chưa từng tốt nghiệp đại học hiếm khi ở mức thấp như hiện nay trong hai thập kỷ qua.
Sự đi xuống của lao động có bằng cấp
Ông Gad Levanon, Chuyên gia kinh tế trưởng tại Burning Glass, cho biết trong hầu hết hai thập kỷ qua, thị trường việc làm của người có bằng và không có bằng đại học thường biến động cùng chiều. Tuy nhiên, hiện tại hai nhóm này đang đi theo hai hướng ngược lại: người không có bằng gặp nhiều thuận lợi, trong khi người có bằng cử nhân, bằng nâng cao hoặc làm trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ lại trải qua thời kỳ khó khăn hơn thường lệ.
Tỷ lệ thất nghiệp của cử nhân từ 22 đến 34 tuổi hiện chỉ tốt hơn so với hai thời điểm trong 20 năm qua: đợt dịch bệnh và giai đoạn phục hồi chậm sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2007–2009.
Sự suy giảm này đến từ quy luật cung cầu:
- Nguồn cung cử nhân tăng nhanh: Ngày càng nhiều người sở hữu bằng đại học. Đồng thời, trí tuệ nhân tạo (AI) đang đảm nhận nhiều công việc cấp thấp mà các công ty thường dành cho sinh viên mới tốt nghiệp.
- Khuyết thiếu lao động phổ thông: Số lượng người không có bằng đại học giảm nhanh. Thị trường thiếu hụt thợ tay nghề cao do thế hệ trước nghỉ hưu và lượng nhập cư giảm.
Sự phân hóa này được dự báo không phải là hiện tượng tạm thời.
Thực tế theo con số tuyệt đối
Dù xu hướng đang thay đổi, nếu xét trên thang đo tuyệt đối, việc tìm kiếm việc làm đối với người có bằng đại học vẫn dễ dàng hơn. Trong 12 tháng tính đến tháng 7, tỷ lệ thất nghiệp trung bình của lao động có bằng đại học ở độ tuổi lao động chính (25–54 tuổi) là 2,7%. Con số này thấp hơn mức 3,6% của nhóm học dở dang đại học và 4,7% của nhóm chỉ có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Tuy nhiên, khi so sánh tỷ lệ thất nghiệp hiện tại với dữ liệu từ năm 2003 của chính từng nhóm lao động, cơ hội việc làm đối với lao động chân tay (như công nhân xây dựng, dây chuyền sản xuất) và lao động dịch vụ trực tiếp (như bảo vệ, y tá, nhân viên nhà hàng, bán lẻ) lại tốt hơn nhiều xét theo tiêu chuẩn lịch sử của họ. Công việc càng mang tính thể chất và yêu cầu có mặt trực tiếp, tỷ lệ thất nghiệp càng thấp. Báo cáo việc làm tháng 8 cho thấy ngành dịch vụ ăn uống đã tăng 59.000 việc làm, chiếm hơn một phần ba tổng số 162.000 việc làm mới của nền kinh tế Mỹ.
Thách thức của sinh viên mới ra trường
Nhiều cử nhân đối mặt với tình cảnh nộp hàng chục hồ sơ nhưng nhận lại rất ít phản hồi. Như trường hợp của Zachary Blackmon, dù tốt nghiệp ngành kinh doanh quốc tế và quản trị vận hành tại Đại học Cincinnati vào tháng 5, ông đã nộp 70 hồ sơ nhưng chỉ nhận được 3 buổi phỏng vấn. Không tìm được việc, Blackmon chọn tiếp tục học lên thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) tại Đại học Dayton với hy vọng mở ra nhiều cơ hội hơn.
Bên cạnh đó, một bộ phận lao động không nằm trong lực lượng lao động (không làm việc và không tìm việc) do bệnh tật, khuyết tật, đang đi học hoặc đã từ bỏ tìm việc. Ở nhóm trẻ tuổi, người có trình độ học vấn thấp rời bỏ lực lượng lao động nhiều hơn: gần 1/4 số người chỉ có bằng trung học phổ thông không tham gia lực lượng lao động, so với tỷ lệ 1/7 ở nhóm có bằng đại học hoặc bằng cao hơn.
Trước tình hình khó khăn hiện tại của người mới tốt nghiệp, chuyên gia Gad Levanon khuyên các cử nhân nên mở rộng phạm vi tìm kiếm công việc, bao gồm cả yếu tố địa lý: “Có thể rất khó tìm việc tại các công ty hàng đầu, nhưng mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nếu bạn sẵn sàng thỏa hiệp.”
Ban tập viên CaliToday



