Phương Pháp Giáo Dục Trong Gia Đình Phật Tử

A.- LỜI DẪN:

            Thưa các Anh Chị:

            Ðể hoằng dương giáo lý của Ðức Phật thì trong đạo Phật đã có những Tăng đoàn Tăng lữ và những vị tu-sĩ Phật Giáo đã và đang gánh trên vai những trọng trách thiêng liêng; đó là hoằng pháp, độ sanh để mong cho nhân loại thoát khỏi những khổ đau của đời.

            Ngoài ra đạo Phật của chúng ta còn có một đoàn thể trẻ đầy nhiệt huyết và luôn dấn thân; đoàn thể này có một tổ chức quy mô, một lý tưởng rõ ràng để phục vụ đó là Gia-Ðình Phật-Tử. Tổ chức trẻ  nầy nguyện trung kiên với lý tưởng của mình là phụng sự Ðạo pháp và với mục đích cố đem Ðạo vào Ðời để hòa nhập Ðời với Ðạo.

            Gia Đình Phật Tử nhằm Mục Đích Giáo Dục và  Đào tạo Thanh, Thiếu Niên và Đồng Ấu,  trở thành những đơàn sinh Phật Tử chân chánh; để hoằng dương Giáo Pháp của Đức Phật và hầu góp phần xây dựng xã hội lành mạnh về tất cả mọi mặt, qua Tinh Thần “Vô Úy”  của Phật Giáo.

             Nhưng lấy gì để đào tạo? Dựa vào phưong pháp nào để xây dựng?

             Đó mới chính là vấn đề mà hằng Huynh Trưỏng chúng ta luôn suy tư và trăn trở.

 

            Đúng vậy, khi mà chúng ta đã là một Huynh Trưởng, tức là chúng ta đang mang một trọng trách rất nặng. Đó chính là cố tìm ra một Phương Pháp Giáo Dục nào khả dỉ cho tuổi trẻ của Phật Giáo (GĐPT),  hay đúng hơn là Phương Pháp Giáo Dục trong Gia Đình Phật Tử vậy.           ó mới chính là vấn đề mà chúng ta cần phải triển khai, để hầu có một đường hướng Giáo Dục rõ ràng cho các em đoàn sinh trong Gia Đình Phật Tử. Dĩ nhiên Phật Pháp là điều tất yếu trong việc giáo dục;  vì chính nhờ ở Phật pháp đã chỉ dạy cho ta những phương cách giáo dục để dạy bảo và đào tạo các em đoàn sinh của Gia Đình Phật Tử vậy.

            Vậy thì trước hết chúng ta phải thông suốt Mục đích của Phật pháp và cách giáo dục cho các em như thế nào.?

 

            I.- Mục đích Giáo Dục trong Gia Đ ình Phật Tử:

           

            Mục đích Giáo Dục trong Gia Đình Phật Tử là đem Phật pháp để giảng dạy,  hầu đào tạo để các em người Phật tử trở thành con người tốt, biết cách gia tế và xử thế  với những ngưòi chung quanh mình, hầu để xây dựng một cuộc sống bình an và thanh thản. … và là người hữu dụng cho nhân quần, xã hpội. Vậy, chúng ta phải thông suốt mục đích của Phật pháp thì việc tu học cho bản thân, cũng như giảng dạy cho Đoàn sinh mới đúng hướng. Nhưng trước khi tìm hiểu mục đích của Phật Pháp cũng như phương pháp học Phật của người Phật tử  hay là Phương pháp Giáo Dục trong Gia Đình Phật Tử bằng cách nào cho có hiệu quả. Thiết nghĩ chúng ta cũng cần biết:  Và điều quan trọng nhất là chúng ta đã và đang áp dụng như thế nào cho chính bản thân mình, để rồi khi đó chúng ta mới có thể giáo dục cho các em đoàn sinh..

             Nhưng trước khi tìm hiểu Phương Pháp Giáo Dục trong Gia Đình Phật Tử và mục đích của Phật Pháp, thiết nghĩ chúng ta cũng cần biết Phật Pháp từ đâu và do ai mà được hình thành?          

 

 

1.-  Phật Pháp từ đâu và do ai mà được hình thành?       

            Khi người Phật tử làm và nghĩ đến Phật pháp, (giao lý của Đức Phật.) Thiết nghĩ chúng ta cũng nên biết Phật pháp từ đâu đến và do ai mà có được. Đó chính là do Đức Phật qua nhiều năm khổ hạnh tu tập để rời sau đó Ngài đã chứng quả thành Phật và Ngài đã đem giáo lý mà Ngài đã ấn chứng được đi thuyết pháp độ sinh hầu mong cho nhân thế hiểu được giáo lý của Ngài mà thoát khổ; để tìm được một cuộc sống an vui, tự tại.. (Và rồi sau đó sau khi Ngài đã viên tịch nhập niết bàn thì những đệ tử của Ngài đã soạn thành sách những gì mà họ đã học và ghi chép được từ Đức Phật,  để giảng dạy lại cho hang Phật tử chúng ta.  Đó goi là Phật pháp).

            Mà Đức Phật khi còn là một người thường, thì đó chính là Thái tử Tất Ðạt Ða, khi Ngài thấy chúng sanh đau khổ vì phải giành giựt cấu xé lẫn nhau từ manh áo, chén cơm để mưu cầu sự sống, và rồi cũng phải chịu sống trong cảnh đau đớn thảm khốc của già yếu, bệnh tật, chết chóc. Từ sự chứng kiến những cảnh khổ đau cùng tận của con người, đã khiến Thái tử khởi động tình thương và cũng từ đó Ngài phải suy tìm cho ra nguyên nhân của sự khổ đau và phương pháp diệt trừ đau khổ. Rồi thiì Ngài đã quyết chí từ bỏ tất cả, giàu sang, phú quý…vợ đẹp, con ngoan, để rồi Xuất gia tìm Đạo hầu cứu khổ cho chúng sanh. Qua thực nghiệm và tu hành, lòng từ bi càng mỡ rộng, công năng tu tập càng tăng trưởng  đã vượt qua chướng ngại thì trí tuệ càng sáng soi. Ðến lúc Thái tử tập trung tư tưởng, chuyên tu thiền định thì trí tuệ Bát Nhã sáng chiếu tuyệt vời, nhìn rõ được nguyên nhân đau khổ và phương pháp diệt trừ nó. Tức là đã “tu chứng giác ngộ”, đạt quả vị Phật và từ đó Phật pháp được hình thành qua công năng tu chứng giác ngộ ấy.

            Mục đích Giáo dục: Cho dù ở bất khoảng không gian và thời gian nào  sự giáo dục  cũng có mục đích làm thăng hoa cuộc sống… Và chủ yếu của giáo dục là truyền đạt những kiến thức học hỏi và sự hiểu biết của người đi trước cho người cho thế hệ kế thừa.

            Giáo Dục trong Gia Đình Phật Tử cũng không ngoài Mục Đích ấy;

            Cũng Tu học và nhất là qua các trại huấn luyện để hầu trau dồi kiến thức  của Đoàn sinh Gi Đình Phật Tử, hầu mong cho cá em có một mớ hành trang trên bước đường hành hoạt Phật sựđể hoằng dương Phật pháp. Đó chính Tôn chỉ và Lý Tưởng của người Phật Tử vậy. .

           
2. Phật pháp có phải là một hệ thống học thuyết không?

             Như trên đã nhận định, Phật pháp cũng là một hệ thống học thuyết nhưng lại khác các học thuyết xưa và nay về cả căn bản lẫn danh từ và văn tự.  Cho nên, chớ đem từ ngữ của học thuyết khác mà thay vào cho Phật Pháp.

 

  1. Phật Pháp có phải là một phương pháp cứu khổ và giúp an vui không?

            Phật pháp không những cho ta thấy được nguyên nhân của khổ đau mà còn chỉ cho chúng ta con đường giảt thoát sự khổ, tiến lần đến cảnh an vui tự tại mà chính chúng ta phải tự cứu lấy mình;  chứ không phải Thượng Ðế  hay vị Thần linh nào ban cho chúng ta cả.

 

             II.- Phương pháp học Phật trong tổ chức Gia Đình Phật Tử:
           

            Khi nói đến “Phương pháp học Phật của người Phật tử”, thì đó là cả một vấn đề…Vì học Phật để trở thành con người theo kiểu nào? Hay chỉ là một khái niệm suông? 

            Ðối với những giáo lý của Đạo Phật.  Ðức Phật luôn luôn tạo nơi người đó một niềm tin, sự thông cảm sâu xa, một tình thương vô bờ, sự hiểu biết thông suốt,  một tinh thần buông xả và thái độ khiêm hạ, hành động vị tha, xây dựng phát triển cuộc sống xã hội trong tinh thần  hòa bình an lạc. Chính những điều này cũng đủ cho chúng ta chứng minh được Ðức Phật, Ngài đã nói lên giá trị con người sống trong xã hội theo hướng giáo dục có chuẩn mực và định giá được giá trị của một đời sống thể hiện được con người của chính mình, và khi tiếp xúc xã hội, thì  con người chúng ta luôn tỏ rộ niềm thông cảm sâu xa và tinh thần vị tha đối với cuộc đời.

             Ðó chính là Phương pháp giáo dục của Đạo Phật, hay đúng hơn là Phương Pháop giáo Dục trong Gia Đình Phật Tử mà người Phật tử  (Đoàn Sinh, Huynh Trưởng) cần phải học.

 

            Gia Đình Phật Tử áp dụng các pháp môn tu học của Phật giáo vào giáo dục là chính. Đồng thời kết hợp giáo dục của thế gian để xây dựng nội dung phưong pháp giáo dục trong GĐPT. Sự kết hợp đó đã làm cho phương pháp giáo dục trong GĐPT them phiong phú và nâng cao được hiệu quã của sự học tập., thích ứng với mục đích đào luyện thế hệ tuổi trẻ của GĐPT trong trong hiện cảnh xã hội hiện nay.

            Phương pháp giáo dục GĐPT dù với hình thức, thể cách nào cũng dựa trên tinh thần nguyên lý Huân tập, theo đường hướng Giới Định Tuệ, trên nền tảng Bát Chánh Đạo.

Nói về phưong pháp giáo dục trong GĐPT thì quá nhiều; nhưng ở đây chúng ta nên dực theo phân ra bốn pphương pháp chính: phương pháp huân tập, phương pháp lý gỉai, phưong pháp hoạt động và Phuong pháp quán nệm.

 

            Nói đến phương pháp Giáo Dục trong Gia Đình  Phật Tử, chúng ta thường quan tâm đến những phương pháp sau:::
            1.- Phương pháp Huân Tập

                2.- Phương pháp Lý Giải:

                        A.-  Nghe giảng (đi nghe những thuyết pháp do Chư Tăng, Ni hoặc những vị 

Cư Sĩ thiện Trí thức Phật giáo giảng) Phương pháp này phần nhiều cho hàng Cư Sĩ Phật tử…Và cho những Anh Chị Trưởng của Gia Đình Phật Tử

                        B.- Tu học tổng quát (tập thể)

                        a.- Hàng Cư Sĩ Phật tử

                        b.- Các khóa tu học Phật pháp do Ban Hướng Dẩn, Đơn vị hay chùa, tu viện tổ chức

            3.- Phương pháp Quán Niệm:

                        Tự học (sưu tìm qua kinh sách Phật và tìm cầu Ân Sư)

             4.- Phương pháp Hoạt Động:

                         Huấn luyện và Đào tạo (hoạt động)

 

1.- Phương pháp Huân Tập:

            Qua Duy Thức thì “giáo lý Duy Thức với nguyên lý giáo dục” huân tập làm ột nguyên lý giáo dục phật giáo. Nói cách khác giáo dục Phật giáo là giáo dục huân tập. GĐPT chọn huân tập là Phuong pháp chính, cũng là một nguyên lý giáo dục để định hướng cho các hoạ động, cá phương thức, phưong pháp giáo dục trong GĐPT. Hành tướng của nó thể hiện trong hình thái xử dụng phương pháp mang tính huân tập cao.

            Khi ta áp dụng một hình thứcsinh hoạt, hướng dẩn giảng dạy mang tính huân tập cao đem đến hiệu quả giáo dục cao thì đó là phương pháp huân tập.

             Như thế chúung ta có thể hiễu được rằng phương pháp huân tập, cũng là nguyên lý

( principle) giáo dục thì bao trùm, chi phối lên tất cả mọi phương pháp. Đó chính là phương pháp chủ đạo, phưong pháp của các phương pháp vậy.  

 

 2.- Phương pháp Lý Giải 

            -Trong những buổi tu học,  thuyết giảng hay hội thảo, thính chúng tập trung ý chíđ để lắng nghe và cố tìm cầu học hỏi để rồi thấu hiểu được những vân đề mấu chốt của bài giảng một cách rành mạch, khi đó khả năng huân tập vào A lợi gia thức càng mạnh, , giúp cho người hoc phát triển được chủng tử thiện tốt. hưóng dẩn như thê ta đã áp dụng phương pháp huân tập bằng hình thứcphưong pháp lý giải.

             Lý giải là phương pháp vận dụng lý trí giúp chúng ta huân tập vào tâm thức những hạt giống tốt về kiến về mọi vấn đề như kiến thức, trí thức, tinh cảm

 

            A.- Nghe giảng (thuyết pháp)

            Học Phật bằng cách đi nghe giảng (Thuyết pháp), đó cũng là một cách hay và hoàn bị nhất đối với người Phật tử. vì khi đi nghe giảng chúng ta được đối mặt với vị Giảng Sư và nhờ thế chúng ta có thể hỏi được những điều mà mình chưa hiểu hết (qua vị Giảng Sư).  đúng với ý nghĩa mà mình đang thắc mắc.

            Đó chính là c ách L ý gi ải  hợp căn cơ; và sự thành khẩn mong cầu và kính trọng của người nghe đối với người giảng pháp.

            Khi nói đến giáo dục lý giải tức là nói đến ý nghĩa giáo dục trong kinh điển Phật giáo hơn là nói đến một nền giáo dục Phật giáo được thực hiện với một hệ thống tổ chức hoàn hảo. Sở dĩ như vậy vì Phật giáo chưa có một nền giáo dục có tính phổ thông, áp dụng cho hết thảy mọi đối tượng. Ðiều này hẳn phải chờ đến một tương lai nào đó.

 

 

            B.-  Tu Học Tổng quát . (tập thể)

            Thật ra con người là một cái gì đó rất phức tạp, bao gồm nhiều cá tính, thiên tư và sự hiểu biết khác nhau,  nên không thể chấp nhận đồng đều một số giáo điều bất biến, một số kiến thức cố định. Vì như thế, chẳng những không phát triển được đúng mức những phần tử ưu tư mà còn làm thui chột những phần tử kém thiên tư.  Do vậy, chúng ta cần phải có một phương pháp giáo dục mới mẽ hơn nhằm đào tạo cho việc cải tiến giáo dục, nhất là lề lối giáo dục cổ điển đã quá cũ kỷ, lỗi thời, nên cần được các nhà có trách nhiệm về giáo dục và các Huynh Trưởng trong GĐPT  lưu tâm, và cải đổi phương pháp giáo dục để cho ph ương pháp giáo dục trong G ĐPT  ngày càng được thăng hoa hơn..

            Bởi thế,  muốn đạt được phương pháp trên, người làm công tác giáo dục cũng phải có phương pháp giáo dục. Tức là phương pháp truyền đạt thông tin kiến thức đến đối tượng là người học Phật (học giáo lý của đạo Phật). Giáo dục không có nghĩa đơn thuần là dạy mà bao gồm cả sự học, do vậy phương pháp giáo dục chính là phương pháp dạy và học, nghĩa là bằng cách nào để truyền đạt tốt nhất có hiệu quả nhất và bằng cách nào có thể để cho người học, người nghe tiếp thu mau nhất, có kết quả cao nhất.

            Tu học chánh pháp, trau dồi kiến thức là vấn đề trường kỳ và quan yếu để xây dựng nếp sống tinh thần, hoàn thiện phẩm chất đạo đức, nâng cao kiến thức tổng quát,  để phụng sự cho đạo pháp và dân tộc

            Vậy phương pháp học Phật (Tu học) và phục vụ đó là hai vấn đề thiết yếu cho người Phật tử tại gia hay xuất gia. Trong sự nghiệp kế thừa của phật Tổ, của Lịch Đại Tổ sư, giáo dục và đào tạo là phương tiện có tính thực tiễn nhất. Trong môi trường đào tạo chúng ta thấy hết sức rõ “Duy tuệ thị nghiệp” có nghĩa sự nghiệp của chúng ta không ngoài trí tuệ: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ được phát huy ở tầm cao của Tam Tạng giáo điển – Tam vô lậu học.

            Người Phật tử phải thấm sâu kinh điển để có một thế giới quan hiện thực sinh động với chân lý khách quan trong ý nghĩa “pháp dĩ như thị”, trong định luật duyên sanh.

            Đức Phật đã từng dạy: “Chủ trương thế giới vĩnh cửu, hay không vĩnh cửu hay bất cứ một quan điểm nào…… điều ấy không đưa lại thái độ chống đối trừ diệt tham dục, ngưng nghỉ an tĩnh hiểu biết tối cao, giác ngộ Niết bàn.”

             Trong ý nghĩa cộng sinh với xã hội, người Phật tử phải có một nhân sinh quan có Phật chất, tự tin ở mình có khả năng giác ngộ, có đức Phật nơi tự thân để luôn nhắc nhở mình phải có Phật tánh.  Cần thấy và hiểu rõ mọi chúng sanh đều có Phật tính như hoài bão thị hiện độ sanh của Đức Phật ở cõi Ta bà mà yêu thương tôn trọng, sống bình đẳng trong sự thương yêu, thong cảm và vô ngã vị tha; xây dựng và phuịng sự. Đạo pháp. Đó là sứ mệnh thiêng liêng của một người con Phật vậy.

 

 3.- Phương Pháp Quán Niệm –  

            -Trong khi niệm phật hay thiền quán, tức là hành giả đã tỉnh tâm để quán xét nội tâm mình hầu kiểm điểm lại những lại ý nghĩ vệc làm, tâm chúng ta lúc đó trở về trạng thái “tịch tỉnh”  trong chanh niệm. . Như thế là chúng ta đã áp dụng phuơng phháp huân tập qua hình thức của phương pháp quán niệm.

            Tâm thức của con gnười là vô thường và vọng động. Vì vậy dòng tâm niệm luôn thay đổi biến chuyển theo thời gian và không gian, theo những cảm nhận của chúng ta đối với sự việc mà chúng ta đang tiếp cận, cho nên nhiều khi bị lôi cuốn vòng giònxoáy của sự việc và khi đó thì tâm bất tịnh, vọng động thiếu nghị lực vì mất chủ động..Phật giáo có phương pháp đểlàm cho dòng tâm thức của con ngưòi không biến thành những tà niệm. Đó chính là phương pháp quán niệm.

            Phương pháp quán niệm có hai cách: Quán tưởng và Thiền định>

            – Quán tưởng là cách làm cho tư tưởng, hành động luôn hướng vào sự thuần nhất của Chánh niệm. .

            – Thiền định là nhất tâm quán vật, nhất cảnh tịnh niệm, để tìm xét, thâu đạt chơn tâm, thật tánh . đó chính là tỉnh tâm.

 

            Như thế chúung ta có thể hiễu được rằng phương pháp huân tập, cũng là nguyên lý

( principle) giáo dục thì bao trùm, chi phối lên tất cả mọi phương pháp. Đó chính là phương pháp chủ đạo, phưong pháp của các phương pháp vậy.  

 

            Tự học qua kinh sách Phật và tìm cầu Ân Sư

            Trong mỗi chúng ta chính là con người có những cá thể biểu hiện thể chất, tâm tính, tư duy tình cảm và vị trí của nó trong hoạt động tồn tại tự nhiên.

            Vậy giáo dục con người cá nhân là nhắm vào các đặc tính sẵn có và đánh thức những gì tiềm ẩn trong con người trỗi dậy. Tuy nhiên, nó không hoàn toàn phải điều tốt cả, do vậy mà học Phật là một vấn đề rất quan trọng mà mỗi người Phật tử chúng ta phải có trách nhiệm và ý thức được những gì cần học phát triển sự hiểu biết và chuyển hóa thân tâm thành một người tốt.. Một cá nhân xuất hiện không chỉ là thể chất mà còn mang một dấu ấn tiềm tàng của một quá trình, cái mà Ðức Phật gọi là “nghiệp”, do vậy bản năng của nó không gì hơn chính là nghiệp, hay là những nội kết thuộc nhân quá khứ. Bản năng đó được xem như là kết quả và nó được biểu hiện trên ba tính chất: Thiện, Ác, và Trung tính.

            Vậy khi người Phật tử học Phật (tự học hơặc tìm hiểu qua Kinh Sách, Băng Dỉa hay trên mang Internet), thì người Phật tử cần phải nắm bắt được những bản năng hoạt động của đối tượng giáo dục, để kịp thời có những phương thức phù hợp trong việc tác động trên các mặt biểu hiện của nó, tùy theo tính chất hoặc tốt hoặc xấu. Học Phật như thế tạo sự phát triển những bẩm tính tốt đẹp, có năng lực hoạt động về cả thể chất lẫn tinh thần, đồng thời đánh thức ý thức trổi dậy qua sự hiện hữu của những dòng lưu hiện trên tâm thức.

            Cho nên điều trước tiên cho người Phật tử  ( tự học)  phải có tâm Đạo, có một sự hiểu biết  khái quát về đạo Phật, như thế thì mới tự tìm tòi những Kinh, Sách Băng Dỉa. hay, bổ ích và dễ hiểu qua những tác giả có uy tính và đạo đức trong nhà Phật, như  của quý Chư  Tôn Đức Tăng, Ni, của các Cư Sĩ Thiện Trí Thức. v.v… (Không nên tìm đọc hay nghe những bài giảng hay Kinh, Sách, Băng Dỉa có ý không lành mạnh những kiến thức nghèo nàn. Vì đó chính là những khái niệm khô khan mà cuộc sống là sự linh hoạt vận động liên tục.).  Do đó, giá trị tự giác (nhất là sự tự giác của một người Tư Học Phật) trong đạo Phật có vị trí rất quan trọng, chính nhờ có “tự giác” mới có khả năng làm hoàn thiện được con người chính nó. Như ông, bà xưa thường có câu: “Thắng muôn vạn quân không bằng tự chiến thắng mình, tự chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”. Bởi thế, khi học Phật chúng ta phải luôn ý thức rằng làm thế nào để cho than tâm luôn bình an, tự tại, và nhất là xã long để sống với tha nhân bằng hạnh từ bi của người con Phật.

 

4.- Phương pháp Hoạt động:
           
-Trong những kỳ trại, đi du ngoạn (picnic)  đã khiến cho Đoàn sinh được hưng khởi  tinh thần, tăng them những tập khí tố. Đó chính là chúng ta đã ap dụng phưong pháp huân tập theo hình thái của phưong pháp hoat động.

            Đây là phưong pháp rất phù hợp cho tâm lý giáo dục của Đoàn sinh trong GĐPT qua hai hình thái, tâm và thân.; nhằm làm nổi bật sự phát triển cácvô lậu chủng tử của trẻ về cả hai mặt tư tưởng và tính tình , kích thức ý lực, mong ước hiểu biết . Từ đó các em được giáo dục qua tinh thần giáo lý Bát Chánh Đạo đã cho các em thấu hiểu và thâm nhập mọi kiến thức hữu ích hầu mở mang trí tuệ,  cũng như rèn luyện những tập quán, đứctính tốt trong việc tu học, trong cuộc sống gia đình, đoàng thể và xã hội.

 

            Huấn luyện và Đào tạo:

            Nhưng đối với Gia Đình Phật Tử thì Phương Pháp giáo Dục lại đặt nặng vấn đề về  “Huấn Luyên và Đào Tạo) cho nên ; việc tu học phật pháp, trao dồi kiến thức  là vấn đề trường kỳ và quan yếu hang đầu đối với người Huynh Trưởng GĐPT. Do vậy, khi đặt ra vấn đề phương pháp Giáo Dục trong GĐPT tức là cố tìm một hướng đi cho người huynh Trưởng để hầu có đũ điều kiện và khả năng hướng dẩn Đơn vị củ mình hay nói đúng hơn là bằng phương cách nào để cho một phật Tử trở thành một người chỉ huy, một cấp lãnh đạo trong GĐPT ; và đó chính là vấn đề, va pháp pháp giáo dục trong GĐPT, qua các chương trình chương trình Tu họcc và Rèn Luyện gồm các mục đích cơ bản: Cố đem những giáo Pháp của Đức phật để giáo dục các em hầu nâng cao kiến thức tổng quát, có khả năng chuyên môn, tinh thần sáng tạo; để hầu mong cho đoàn sinh GĐPT sẽ có được nếp sống tinh thần hoàn thiện,  phẩm chất đạo đức tốt;  để trở thành những c ấp Chỉ Huy (từ Đàn, Đội, Chúng Trưởng…. Cho đến những Huynh Trưởng Đòàn, và Đơn vị Trưởng cũng như Trưởng Ban. .v.. )  để chỉ huy Đơn vị, Miền;  cũng như hầu mong cho các em sẽ trở thành con người tốt và hữu dụng cho xã hội, hầu có cơ hội để phụng sự cho đạo pháp và dân tộc ……

 

            Chương trình được quy định như sau:

            Đoàn Sinh:

            1.- Ngành Oanh: Mỡ  Mắt – Cánh Mềm – Chân Cứng – Tung Bay

                         Hoặc.: Anoma – Ni Liên, Tuyết Sơn

            2.- Ngành Thiếu: Sơ Thiện – Hướng Thiện – Trung Thiện  – Chánh Thiện.

                        Hoặc: Kiên – Trì – Định – Lực

             Huynh Trưởng:

                         Qua các Trại huấn luyện:: Lộc Uyển – A Dục – Huyền Trang – Vạn Hạnh

.

            III.- Ý Nghĩa:

 

            Trong Gia đình Phật Tử các phương pháp đều được áp dụng theo phương pháp huân tập và chủ yếu là lấy Giới Định Tuệ  làm gốc qua nền tảng giáo dụccủa Bát Chánh Đạo: được áp dụng qua các phương pháp trên là:

            -Phương pháp Hoạt động:  gồm các thể cách huân tập bằng các hoạt động thực hành Chánh mạng, Chánh nghiệp, Chánh ngữ.

            -Phương pháp Lý giải:  gồm các thể cách huân tập: kiến thức, tự tướng trên tinh thần Chánh kiến, Chánh Tư Duy và Chánh Tinh Tấn.

            –Phương pháp Quan niệm: bằng những thể thức huân tập bằng niệm tướng theo Chánh định, Chánh niệm.

 

            Nói chung là vậy; nhưng mỗi phưong pháp còn tùy theo trườnghọp  tình thế mà áp dụng Bát Chánh Đạo. Vì khi mà đem những phuơng pháp giáo dục để giảng dạy cho các em Đoàn sinh thì cũng có lúc không còn tính cách riêng biệt ; mà trái lại chúng có mối lien hệ hữu quan với nhau: Lý giải cần hoạt động, hoạt độn cũng là một cách lý giải, lý giải nhờ quán niệm. Quán niệm có khi cũng cần đến hoạt động vậy..

            Vậy thì trong một bài học chúng ta có thể áp dụng cả ba (3) phương pháp giáo dục; tùy theo mức độ đẳngcấp của sự áp dụng, tùy theo môn học, trình độ và tâm sinh lý của Đòan sinh

 

            Từ đó ta mới nhận thức được phương pháp học Phật của người Phật tử không chỉ là mộthuấn luyện tâm trí. Huấn luyện đưa tới hiệu năng nhưng không toàn vẹn, chỉ kéo thêm quá khứ, và một tâm trí như vậy có thể chẳng bao giờ khám phá ra được điều mới mẽ nào cả, đó là do đâu mà tìm kiếm những gì là nền thích đáng. Vì với kiểu giáo dục con người bằng vật chất và máy móc, bằng giáo điều và quy luật. Với mục đích như vậy chỉ đem đến sự bất toàn và vô hiệu, cho nên người Phật tử phải học và hiểu (bằng cách tìm hiểu và tra cứu qua s kinh, sách) giáo lý của nhà Phật một cách thấu triệt để đem lại sự hòa điệu, sự khám phá và phát minh, sáng tạo những cái mới, bằng tinh thần vô tư và tự giác. Và muốn được như vậy thì người học Phật phải tự đánh thức trí thông minh của mình bằng cách khảo sát cái tự trị là một điều quan trọng và cần yếu

 

            Với những người học Phật thì phương pháp nào cũng mang đến lợi ích cho bản thân mình hết. Vì vậy cũng không nên quá chú trọng đến phương pháp, mà chỉ mong cầu làm thế nào để mình có thể hiểu rõ được ý nghĩa đạo lý của lời kinh là quý hóa lắm rồi.

 ,          Cũng vì thê mà chính đức Phật đã hiểu hơn ai hết, ngay từ “Sutra ” kinh đã hàm chứa phương pháp giáo dục của đức Phật. 

            Vậy trong những lời Kinh đã bao hàm tất cả những điều kiện ắt có: khế lý, khế cơ, khế thời.( Khế “phù hợp”)
            Khế lý: Yêu cầu phải phù hợp với lý luận, phù hợp với sự thật và hiệu quả

            Khế cơ: yêu cầu phải phù hợp với căn cơ, tức mức độ và trình độ của mỗi đối tượng.

            Khế thời: yêu cầu phải đúng lúc và phù hợp với nhu cầu của thời đại

            Chính từ đây chúng ta thấy có phương pháp khoa học Giáo dục đa dạng

            Như vậy là hưong pháp học Phật của người Phật tử tùy theo khả năng và kiến thức của từng cá nhân một. Vì trong mỗi một con người chúng ta dều có những cá thể riêng biệt hoặc sự hiểu biết khác nhau; nhất là sự hiểu biết về “giáo lý của nhà Phật”, cho nên phương pháp học Phật cũng phải qua từng cấp từ thấp đến cao, chứ không rập khuôn theo kiểu máy móc. Do vậy khi người Phật tử học Phật pháp thì chính là đã học được sự giáo dục qua giáo lý của Đức Phật bằng khả năng và sự hiểu biết qua trình độ của mình. Như vậy ta có thể nói (phương pháp học Phật của người Phật tử  trong đó bao gồm sự  hiểu biết về giáo lý của Đức Phật, những điều hay, lẻ phải và nhất là để phát triển tâm linh.  Do vậy, khi đặt ra vấn đề phương pháp học Phật tức là đi tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật đã giáo dục con người trở thành con người tốt và hữu dụng cho xã hội, quả thật là một vấn đề nan giải bởi vì trong cái xã hội loài người nầy vốn muôn mặt muôn hình, đầy rẫy những bất công áp bức và chế độ phân tầng đã tạo nên những thứ buồn nôn, đầy rẫy chủ thuyết, chủ nghĩa, những tập đoàn, thể chế.        

 

            Nếu chỉ là phương pháp truyền đạt thì Đông Tây không khác nhau lắm, nếu chỉ là trong nhà Trường thì các phương pháp giáo dục và truyền đạt hiện đại cũng gần như nhau; ở đây, chúng ta nhấn mạnh về hai điểm đáng chú ý, đó là Giáo Dục Phật Giáo và môi trường GĐPT.
            1.- Giáo dục Phật Giáo dạy những điều mà Luận Lý học Tây Phương không có, ví dụ như Chân Đế và Tục Đế, đó là 2 loại chân lý (Sự Thật), Chân lý tương đối (hay Tục Đế) và Chân lý tuyệt đối (hay Chân Đế). Tây phương với Tam đoạn Luận thì chỉ có một chân lý mà thôi; Luận Lý học Phật Giáo cũng có Tam đoạn luận mà còn có Tứ Tất Đàn (là 4 tiêu chuẩn để trình bày sự Thật). Giáo dục Phật giáo còn có những phủ định làm sáng vấn đề hay làm cho người nghe không thể nào hiểu lầm được; ví dụ như đức Phật dạy: “trong 49 năm qua, ta chưa hề nói một lời nào” đó không phải là Ngài đã phủ nhận tất cả Kinh điển mà ngài đã nói ra sao ? nhưng đó cũng làm cho chúng ta không chấp chặt vào những lời dạy đó để rồi dẫn đến những hiểu lầm tai hại. Sự phủ nhận này cũng tương tự như lời dạy: “Chân lý là mặt trăng, kinh điển là ngón tay chỉ đến mặt trăng, đừng bao giờ lầm ngón tay với mặt trăng” v..v..
            Một Huynh trưởng GĐPT khi truyền đạt một bài học cho các em của mình (về Phật Pháp, Hoạt Động Thanh Niên, Việt Ngữ…)  hay thuyết trình  một bài viết, mộtvấn đề quan trọng giữa  đại hội Huynh trưởng hay giữa một cuộc hội thảo… không hoàn toàn giống với một thầy/cô giáo giảng bài cho học trò của mình trên lớp. cũng không giống một nhà sư thuyết pháp cho quần chúng hay một nhà truyền giáo Tây phuong đi rao giảng Kinh Thánh v..v..
            Vì sao? – xin thưa, vì đối tượng truyền đạt của chúng ta đủ mọi thành phần, mọi trình độ về học vấn, về ngôn ngữ, cả về văn hóa nữa! Ngoài ra người Huynh trưởng chúng ta vừa dạy vừa học, có nghĩa là những điều chúng ta dạy các em chúng ta đã và đang thực hành;  chứ không phải chỉ giảng bài, rồi ghio chép là xong đâu!  Xa hơn nữa, đối tượng của chúng ta (là các em đoàn sinh, là các Huynh trưởng tham dự);  sau khi đã lắng nghe những vấn đề chúng ta trình bày; nhưng cũng có những người không hoàn toàn nắm vững để nhận thức biết vấn đề ấy có thể áp dụng thực tế hay không, chứng tỏ người ấy chưa lãnh hội được vấn đề! Tất nhiên trách nhiệm không hoàn toàn ở người truyền đạt;  nhưng ít ra cũng 50% thuộc về trách nhiệm của người ấy !!
            Do đó, ở đây chúng ta chỉ khảo sát kỹ 3 vấn đề ảnh hưởng đến sự truyền đạt; đó là Tâm Lý Đối Tượng, Nhị Đế và Tứ Tất Đàn

            B. TÂM LÝ ĐỐI TƯỢNG:

            Muốn thành công trong việc truyền đạt, theo quan điểm Phật giáo, chúng ta cần phải biết tâm lý đối tượng để có thể lôi cuốn họ vào mục đích của mình:

            I. Xác định nội dung: 
            Nội dung đây là nội dung của tâm lý đối tựợng không phải nội dung bài giảng. Sự xác định nội dung của tâm lý đối tuợng tùy theo tư cách và vị trí xã hội của nguời giảng.

Ví dụ:
            –           một người  Cư sĩ Phật tử giảng Phật Pháp cho quần chúng
             –          một vị Tu sĩ thuyết  Pháp cho đồng bào Phật tử
            –           một Huynh trưỏng GĐPT dạy Phật Pháp cho các em đoàn sinh
            –           một Huynh trưởng dạy HĐTN cho đoàn sinh
            –           một Huynh trưởng dạy Việt Ngữ cho các em đoàn sinh..v..v..
            Tất cả những trường hợp trên đều là những nội dung khác nhau, đòi hỏi những cách ứng xử khác nhau, cố làm sao để thích hợp cũng như để thành công trong việc truyền đạt.

            II. Tư chất đạo đức & phong cách tư duy
           
Phong cách tư duy và ngôn ngữ có thể giúp chúng ta chuyển tải nội dung một bài giảng (Phật pháp)  cho các em, hay khi thuyết trình ( một đề án, một  bài luận văn) trước đại hội; Và để cho các em hoặc  thính chúng có thể hiểu rõ vấn đề một cách rành mạch, rõ rang; phong cách này biểu hiện qua khả năng phân tích và lý luận, biện giải vấn đề một cách thông suốt nhạy bén, sắc sảo (vì các em  Đoàn sinh, cũng như thính chúng, có những trình độ và sự hiểu biết khác nhau). Vậy đã là một Huynh Trưởng thì các Anh Chị phải tỏ ra mình là một người có đầy đũ phong cách của một Đàn Anh, Đàn Chị để mà dạy bảo cho các Đoàn Siinh, thì khi đó các em mới đạt được thành quả theo quá trình tu học của chúng

            III. Đặt vấn đề và phân tích vấn đề.
           
Mỗi vấn đề có bản chất lý luận riêng, Xác định được vấn đề thuộc loại nào, chúng ta có thể giúp các em có cơ sở lý luận để lảnh hội dễ dàng hơn; có 4 chiều hướng để đặt vấn đề (và phân tích vấn đề):
            1. Nhất hướng: ví dụ đề tài “Mọi người đều phải chết” Đó là chuyện hiển nhiên, không cần phải bàn cãi
            2. Phân biệt: Ví dụ đề tài “Sau khi chết, cái gì đi tái sinh?”: tùy theo tín ngưỡng tôn giáo, câu trả lời khác nhau và cơ sở lý luận là dựa vào giáo lý của tôn giáo ấy
            3. Cật vấn: ví dụ đề tài “Địa vị con nguời trong Đạo Phật là cao hay thấp?” không thể trả lời dứt khoát vì phải biết đặt con người trong những tương quan khác nhau (Trời, A Tu La, Súc sanh v..v..)
            4. Xả Trí: ví dụ đề tài “Thế giới này hữu hạn hay vô hạn” Câu hỏi này vượt quá trí tuệ loài người, cũng có thể là một vấn đề siêu hình hay khoa học… nhưng thấy trước không thể vượt qua được vì không có cơ sở chung (trình độ về khoa học, về tôn giáo, sự khác biệt tín nguỡng, văn hoá…) cho nên nếu tranh luận hay lý luận đều không có lối thoát; những vấn đề này phải gác qua một bên!
            Bốn trường hợp trên được coi là bản chất của đề tài / vấn đề được thảo luận. Bản chất ấy có khi khách quan, có khi chủ quan, có nghĩa là một số vấn đề được coi là nhất hướng, cật vấn hay xả trí… còn tùy thuộc nhận thức chủ quan của người nghe cũng như tùy thuộc vào cơ sở tư tưởng và ngôn ngữ đồng hay bất đồng giữa diễn giả và thính chúng. Vì vậy đôi khi để tránh cho buổi thuyết giảng khỏi bị dẫn đến tranh luận không lối thoát, diễn giả cần liên hệ với thính giả để xác định đề tài sẽ được trình bày thuộc trường họp nào trong 4 trường hợp trên.
            Và như vậy thì với tập thể Gia Ðình Phật Tử là một tổ chức quy mô có thực thể và sự sinh tồn đã trải dài hơn 1/2 thế kỷ qua, đó cũng là một sự liên kết hợp thành của nhiều cá thể có cùng chung một tôn giáo, một tín ngưỡng, đi chung một đường hướng và mong nguyện đạt chung một lý tưởng. Do đó yếu tố căn bản và quan trọng để duy trì và phát triển tổ chức Gia Ðình Phật Tử là phải hòa hợp, phải tương kính lẫn nhau và nhất tâm tuân theo một hệ thống “tôn ty trật tự” từ thượng tầng đến hạ tầng của tổ chức vậy. Có hòa hợp, có tôn kính theo tinh thần “lục hòa” của Phật-Giáo, thì mới “nhất tâm”, khi mà tất cả cùng có chung một tâm nguyện rồi thì từ đó sẽ phát khởi ra những ý hướng để phát triển tổ chức bằng mọi cách cho được tốt đẹp và hoàn thiện. Đó mới chính là trách nhiệm của các bạn, khi mà các bạn đã nhằm góp phần (công, sức) vào việc rèn luyện, đào tạo các em đoàn sinh (theo từng thứ lớp, cấp bậc và tuổi tác như đã nêu ở trên) để hầu mai hậu góp phần xây dựng tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam thêm vững mạnh, cũng như góp công đức vào việc hoằng dương Ðạo Pháp theo con đường mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã đề xướng ra hầu mong giữ gìn Giáo Hội và hộ trì Tam Bảo và phụng sự Tổ quốc.

            Với một bản thân tốt, một tổ chức kiên trì, vững mạnh, có một đường hướng rõ rệt của cái lý tưởng mà mình đã chọn. Cũng như từ một người HuynhTrưỡng Trẻ đã được đào tạo bởi những anh chị Trưởng đã đi trước, với đầy đũ kiến thức, khả năng và kinh nghiệm, người Huynh Trưởng cũng được un đúc, học hỏi từ những bậc trưỡng thượng, những vị thiện trí thức và nhất là những thế hệ ông, cha đi trước mà bây giờ những vị đó cố truyền thừa lại cho những con, cháu, những lớp thế hệ trẻ nối tiếp sau nầy.., và cứ theo một dòng chảy như thế để vẫn mãi cố làm sao mà đào tạo  được một lớp người trẻ nói chung và một lớp Huynh Trưởng trẻ nói riêng có đầy đũ kiến thức học vấn, khả năng kỹ thuật cũng như dư thừa đạo đức và tài chỉ huy, lãnh đạo (cả Trí lẫn Ðức) hầu sau nầy khi đã trưỡng thành vào đời thì lớp Huynh Trưởng Trẻ nầy sẽ dần thay thế các anh chị Trưởng cao niên để mang những gì mà mình đã học hỏi được bằng tất cả khả năng, thiện tâm, đạo đức của chính mình, của chính ở những người Huynh Trưởng Trẻ đã sẵn một lòng tự tin, một bản năng sáng tạo và những gì mà mình đã học hỏi được ở học đường cũng như kinh nghiệm sống ở ngoài đời, hầu giúp cho người Huynh Trưởng trẻ thuở nào, bây giờ đã trưởng thành, đã chững chạc bước vào đời và cùng hoà nhập vào dòng xoáy của xã hội, với cái khã  năng và vị thế sẵn có của chính mình trong xã hội, ở ngoài hầu mang ra ứng dụng trong công việc (ở sở làm) trong môi trường của xã hội mới mà mình đang sống, cũng như mang ra chỉ dạy, rèn luyện các em đoàn sinh trong đơn vị Gia Ðình Phật Tử mà mình đang sinh hoạt, khi đó người bạn trẻ lúc xưa đã không còn bị ngỡ ngàng, mà trái lại họ có đầy đũ những bản lảnh của một người chỉ huy qua khả năng lãnh đạo để hầu đưa tổ chức GÐPT  tiến mãi theo đà tiến triễn của xã hội văn minh bây giờ vậy.

            Thưa các bạn, với tất cả những gì mà các bạn đã, đang học hỏi, những điều hay, những cái tốt và những kinh nghiệm từ các anh chị Trưởng Đàn Anh, Đàn Chị; và thêm vào đó là những gì mà các bạn đã và đang học hỏi ở xã hội khi mà bạn đã trưởng thành và đang hòa nhập, đang sống, từ ngay công việc mà bạn đang làm và cũng chính những môi trường đó đã tạo cho bạn một hướng đi mới, một quan niệm sống rất thực tế với đời, và cũng chính với quan niệm như vậy mà các bạn đã ý thức được cái hướng đi của chính mình và rồi từ đó các bạn đã nghiễm nhiên trưỡng thành với đầy đũ tất cả những gì mà chúng tôi những người đi trước đã từng mong ước ở các bạn.

            Ðó là khả năng Lãnh đạo của người Huynh Trưởng GÐPTVN vậy.

 

  1. KẾT LUẬN:

    Mặc dù chúng ta chú trọng thực hành chứ không quá coi trọng lý thuyết, mặc dù chúng ta chủ trương làm nhiều hơn nói v..v.. Nhưng chúng ta cần phải trao truyền lại cho đàn em của chúng ta những kỷ năng mà chúng ta đã có, và những gì mà chúng ta đã học hỏi từ các bậc Đàn Anh Chị Chị cũng như đã được Anh Chị của chúng ta trao truyền lại cho chúng ta… Cứ mãi tiếp nối như thế theo dòng chảy của thời gian (mà trong tổ chức Gia Đình phật Tử chúng ta gọi là Truyền Thừa) …Và việc trao truyền không thể thiếu ngôn ngữ, thiếu chữ viết được! Do vậy mà chúng ta cần phải sưu tìm những tài liệu (qua sách vở, trên Internet) và từ những tài liệu (lý thuyết ) ấy chúng ta đã góp nhặt những kiến thức của những người đi trước, và bằng khhả năng hiểu biết của chính mình để biến những tài liệu lý thuyết ấy thành tư liệu của mình. Đó chính là mục đích và phương pháp để hầu giúp chúng ta có đầy đũ những dữ kiện (tài liệu ) hầu dạy dỗ các em đoàn sinh vậy.
                Người Huynh trưởng cần phải trang bị cho mình những hiểu biết không chỉ thuộc phạm vi chuyên môn của mình mà còn ở nhiều lảnh vực, bởi vậy, tuy không đứng lớp giảng dạy nhưng vẫn phải nắm nguyên tắc truyền đạt, không dạy Phật Pháp; nhưng vẫn phải biết những  những chương trình , nội dung  về những bài Phật Pháp được giảng dậy qua các Trại A Dục, Lộc Uyển, Huyền Trang và Vạn Hạnh; (tùy theo khả năng và cấp bậc của từng Huynh Trưởng).
                Về phương pháp truyền đạt thì không bao giờ cũ;  nhưng những trợ huấn cụ cho việc trao truyền, giảng dạy thì luôn luôn mới; ngày xưa chúng ta chỉ có máy quay ronéo, projector, ngày nay đã có computer, máy in, laptop hay rộng rãi hơn là trên Internet, trong các diễn đàn…Tất cả những vật dụng đó đã làm cho những buổi giảng trở nên linh hoạt, sống động, gây chú ý cho người nghe, tạo nhiều thuận lợi cho người nói… Tuy nhiên trong trường hợp phải giảng bài trong rừng, thiếu ánh sáng, không có điện, không thể sử dụng bất cứ loại máy móc nào, nghĩa là ở những nơi thiếu những phuơng tiện hiện đại, người HTr./GĐPT nói chung, người ĐST nói riêng vẫn có thể nói chuyện, giảng bài… được như thường; đó là vì người HTr./GĐPT không chỉ biết ghi bài trên giấy mà còn biết ghi trong tâm, trong óc; không chỉ ngồi trên bàn mới học được mà ngồi dưới gốc cây, trên bãi cỏ,… vẫn học được, bằng cớ là chúng ta vẫn ghi nhận những bản tin, giải những mật thư… trong rừng hay giữa đường, và những câu chuyện lửa tàn, câu chuyện dưới cờ, đâu có ai ghi mà sao vẫn nhớ?
                Tuy nhiên, phương pháp nào cũng phải kèm theo nghệ thuật; phương pháp dù có hay bao nhiêu mà sự truyền đạt không có nghệ thuật, nghĩa là không khéo léo, không biết vận dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ, ý tứ, đề tài thiếu hấp dẫn, thiếu thực tế, lý luận không mạch lạc, thiếu tính cách thuyết phục, v..v.. Thì sự truyền đạt khó có thể thành công nghĩa là không hữu hiệu, người nghe không thu thập được nhiều.
                Do đó, tài liệu chỉ là chữ nghĩa, cách thức mình trình bày, truyền đạt mới là chủ yếu; chúng ta phải thường xuyên tập luyện mới có thể thành công trong vấn đề truyền đạt trọn vẹn nội dung của một đề tài được giao phó.

 

———-%%%%%———-

 

                                                            Liên Hoa, May – 2018

                                                            Tâm Tường.- Lê Đình Cát

Bình Luận

Lưu ý: về ý kiến của độc giả nhất thiết không phải là ý kiến của toà soạn nhật báo Cali Today. Tòa soạn không chịu trách nhiệm về nội dung ý kiến của độc giả. Xin qúy độc giả góp ý kiến xây dựng, với ngôn ngữ phù hợp, tránh những ngôn ngữ thô tục, mạ lỵ, chụp mũ hay mạ lỵ cá nhân. Nhật báo Cali Today khuyến khích tự do phát biểu ý kiến qua phân tích, nhận định, trình bày quan điểm và ý kiến của mình, nhưng không mạ lỵ, bôi nhọ người khác hay hội đoàn bằng những nội dung và ngôn ngữ không phù hợp. Chúng tôi dành quyền không đăng hay xóa bỏ những ý kiến đóng góp mang nội dung và ngôn ngữ không phù hợp mà không nhất thiết phải thông báo trước hay trình bày lý do. Trân trọng và mong được qúy độc giả xa gần hợp tác. Những trường hợp vi phạm những điều nói trên nhiều lần, chúng tôi buộc phải block (khóa) lại trương mục của người cố tình vi phạm. Vì quá nhiều độc gỉa post comments, trong đó có một số không phù hợp nội quy, và nhiều khi tòa soạn không kịp phát hiện, nên nếu qúy độc giả nào phát hiện bất cứ comments nào không phù hợp nội quy, xin báo cho tòa soạn biết qua email nguyenxnam@yahoo.com. Trân trọng cám ơn. Nhật báo Cali Today

blog comments powered by Disqus