Sunday, December 4, 2022
spot_img

TẦN PHỤ NGÂM

Việt dịch và diễn thơ

            Nếu có những khúc ngâm đoạn trường trong văn học thi ca làm cho người đọc qua nhiều thế hệ trải mấy nghìn năm vẫn còn cảm xúc đòi đoạn thì Chinh Phụ NgâmCung Oán Ngâm Khúc là hai khúc ngâm tiêu biểu trong văn chương Việt Nam; cũng như Trường Hận Ca, Tam Lại Tam BiệtTần Phụ Ngâm được xem là “tam bi hùng ký” trong văn chương Trung Quốc thời Hậu Đường.

            Người Việt yêu thi ca thường ưa chuộng dư âm cùng ý vị lãng mạn và bi tráng giàu kịch tính hơn là vẻ bi phẫn và hùng tráng của hiện thực máu xương trong thi ca đượm mùi chinh chiến. Tâm lý nghệ sĩ nầy giúp lý giải một phần câu hỏi còn nằm trong góc khuất văn học là tại sao cho đến nay, hơn cả nghìn năm sau, tác phẩm Tần Phụ Ngâm vẫn chưa có người dịch ra tiếng Việt.

Tần Phụ Ngâm là một bài thơ trường thiên thuộc loại tự sự, do Vi Trang – thời mạt Đường Ngũ đại (923 – 936) – sáng tác.

Bài thơ này là một trường ca với 186 câu nguyên tác và hơn 300 câu Việt dịch mang nội dung tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh. Bản trường ca mượn lời của một thiếu phụ lánh nạn chiến tranh, thuật lại hình ảnh xã hội loạn lạc, tâm lý hãi hùng và cảm xúc uất nghẹn trong thời kỳ giặc Hoàng Sào nổi lên chiếm đóng Trường An vào cuối đời Đường. Bài thơ là một bản cáo trạng tội ác chiến tranh trên thân phận chìm nổi, rách nát tang thương của người dân vô tội.

Toàn bộ bài thơ là một khúc ngâm dài đầy bi phẫn. Trong đó, muôn vàn tình tiết mang nhiều sắc thái lúc dậy sóng, lúc yếu mềm; khi phẫn hận, khi bi thương… tất cả đều được diễn đạt khúc chiết, phong phú với kết cấu chặt chẽ vừa lý, vừa sự. Ngôn ngữ thi ca trong tác phẩm trôi chảy, trau chuốt. Cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật đều đạt đến cao độ nên đã được các nhà phê bình văn học thời danh công nhận là một “tòa bia ký” trong khuynh hướng thi ca tự sự thời cổ.

 Nguyên văn đã được người xưa ghi trong phần nhận định cuối bài ca rằng:

Qua Tần Phụ Ngâm, Vi Trang đã được giới tài tử văn chương đương thời xưng danh đầy tao nhã là “Tần Phụ Ngâm Tú Tài”. Người đời sau đem bài thơ này cùng với bài nhạc phủ đời Hán “Khổng Tước Đông Nam Phi”, nhạc phủ đời Bắc Triều “Mộc Lan Từ” coi ngang bằng nhau gọi là “Nhạc Phủ Tam Tuyệt”. Cũng có người công nhận bài thơ này của Vi Trang là kế tiếp bài Tam Lại Tam Biệt của Đỗ Phủ và Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị, là Tòa Bia Ký Thứ Ba trong khuynh hướng thơ tự sự thời Hậu Đường. Nhưng Tần Phụ Ngâm đã bị bít kín giữa hai khuynh hướng nghịch chiều vì bài thơ nói về khổ nạn giặc Hoàng Sào. Trong khi các triều đại vua chúa thì cho Hoàng Sào là tướng cướp; nhưng phía nghịch lại thì cho Hoàng Sào là một thủ lãnh của phong trào nông dân bị áp bức vùng lên. Tả hữu bất phân, Tần Phụ Ngâm vắng bóng…

Lần đầu, Tần Phụ Ngâm đã được nhà thơ Hạt Cát, dịch giả Bạch Vân (Cát vàng và Mây Trắng là cùng một người) chuyển ngữ gồm cả dịch âm, dịch nghĩa và dịch thơ theo thể song thất lục bát từ nguyên tác chữ Hán truyền thống dạng phồn thể sang tiếng Việt thuần túy. Cả nghìn năm im lặng, tiếng thơ thiên cổ vọng lên có lẽ không phải bất ngờ mà rất có thể do niềm cảm thông sâu xa và nỗi xúc động vừa dấy lên của cuộc chiến tranh phi lý vừa xảy ra và đang tiếp diễn giữa Nga và Ukraine khi những dòng này đang gõ trên bàn phím.

Nhà thơ Hạt Cát, dịch giả Bạch Vân là một hiện tượng văn học nghệ thuật lạ lùng và quý hiếm của người Việt Nam cả trong và ngoài nước ở thế hệ nầy. Không xuất thân từ một học viện đào tạo ngôn ngữ chuyên biệt nào cả nhưng Hạt Cát đã làm thơ – thơ thuần Hán tự phồn thể – với thi tứ tài hoa.

Tác phẩm thơ Bạch Vân Vô Sở Trú – Mây Trắng Thong Dong được xuất bản năm 2016 tại Philadelphia, Hoa Kỳ đã làm giới văn bút xôn xao, nhất là đối với người có sở kiến về chữ Hán. Nhà văn, nhà nghiên cứu Hán Việt Nguyễn Đức Cung đã nhận định:

“Nếu nói rằng tập thơ chữ Hán “Bạch Vân Vô Sở Trú” dịch tiếng Việt “Mây Trắng Thong Dong” của nhà thơ Hạt Cát xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam ở Hải Ngọai là một hiện tượng độc đáo và quý hiếm thì điều đó quả thật không có gì là ngoa. Độc đáo vì nó là một thi tập gồm 125 bài thơ viết bằng chữ Hán theo lối chữ phồn thể được dùng tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và trong các tác phẩm cổ của nền văn học Việt Nam (…)  Toàn bộ các bài thơ đã được (chính tác giả) dịch ra lời thơ bằng tiếng Việt với ngôn từ trau chuốt, bóng bảy, nhẹ nhàng, thanh thoát…”

Trong hội thoại với các bạn thơ, khi nói về nguyên do từ đâu một người thuộc thế hệ tương đối trẻ như Bạch Vân lại có khả năng và tài năng làm thơ chữ Hán được như vậy, Hạt Cát – Bạch Vân trả lời:

“Có lẽ từ suối nguồn Phật giáo…”  và tiếp lời: “Nếu nói bắt đầu học chữ Hán khi nào thì em phải nói là có liên hệ với Phật giáo đấy. Cho nên em nghĩ kiếp trước chắc em là tu sĩ nào đó, nhận cúng dường của bá tánh mà không lo, chỉ lo làm thơ, nên kiếp này… trả! Số là hồi nhỏ, trong nhà có kinh Phật , trong số kinh có quyển Quy Nguyên Trực Chỉ bằng Hán tự nhưng có phiên âm và dịch nghĩa tiếng Việt, lúc ấy em đang học khoảng lớp Nhất (5)  muốn biết tên mình viết theo chữ Hán ra sao, bèn học chữ Hán từ quyển kinh, sau đó bắt gặp văn Hán Việt ở đâu là cắm cổ tìm hiểu…” Và điều đáng ngạc nhiên đáng phục hơn nữa là Hạt Cát bắt đầu làm thơ chữ Hán sau khi qua Mỹ: “Thật ra thì em làm thơ lúc mới qua Mỹ; thập niên 80 gửi thơ cho tạp chí Việt Nam Hải Ngoại đăng cũng khá nhiều nhưng dạo đó em chưa nghĩ đến làm thơ tiếng Hán cho tới khoảng 1985 mới bắt đầu.”

Thử đọc một bài thơ trong hàng trăm bài thơ của người tuổi trẻ Hạt Cát làm thơ chữ Hán với hơi hướm như lão thiền sư và tự dịch âm, dịch thơ như một thi nhân lãng tử.

Nguyên tác:

 

晚夜闻風

燃深夜臘觀星墜,

鼓墓心經誦數行,

 忽闻風月催敲動,

 笑聲誰起冷茫茫!

放經不覺回頭望,

大地山河突變虛,

 禅尼襟衩雲飄拂,

人已空兮有没予?

 

Dịch âm

Vãn Dạ Văn Phong

 

            Nhiên thâm dạ lạp quan tinh trụy,

            Cổ mộ tâm kinh tụng sổ hàng,

            Hốt văn phong nguyệt thôi xao động,

            Tiếu thanh thuỳ khởi lãnh mang mang!

            Phóng kinh bất giác hồi đầu vọng,

            Đại địa sơn hà đột biến hư,

            Thiền ni khâm xái vân phiêu phất,

            Nhân dĩ không hề hữu một dư ?

 

Dịch thơ

            Ngồi Khuya Nghe Gió

 

            Ngồi khuya thắp nến canh sao rụng,

            Gõ mộ, tâm kinh đọc mấy hàng,

            Bỗng nghe trăng gió khua lồng lộng,

            Ai cười vang vọng lạnh mênh mang.

            Buông kinh bất giác quay đầu lại,

Đại địa sơn hà chợt rỗng rang.

Tà áo thiền ni mây phất phới,

            Người đã không rồi, ta có chăng?

 

Trong sinh hoạt văn học Việt Nam thời cận và hiện đại, khi nói đến nghệ thuật dịch thơ Hán – Việt, những tên tuổi thành danh như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng San… đã nổi bật giữa dòng chuyển ngữ. Với dịch giả tài năng, dịch thuật không chỉ đơn thuần là chuyển ngữ mà còn góp phần thắp sáng nội dung, thăng hoa tư tưởng của nguyên tác. Từ xưa, giới văn bút phương Tây đã dấy lên nỗi hoài nghi về vai trò dịch thuật khi đặt vấn đề “dịch là phản” – traduirec’est trahir (?!) – nhưng thế giới văn học của nhân loại càng ngày càng mở rộng tầm nhìn và phương tiện chuyển tải ngôn ngữ thành một thể “toàn cầu hóa” (globalization) để cả hành tinh nầy thành một “làng địa cầu” (global village) mà lịch sử ba năm Đại Dịch Covid-19 với nỗi lo chung đã chứng minh điều đó.

            Trong dòng văn bút và chuyển ngữ trôi chảy đủ vẻ trong – đục, đủ mùi thanh – tục… , đặc biệt là thời nay, máy dịch các hệ thống ngôn ngữ thế giới đang được ứng dụng toàn cầu thì sự chuyển ngữ đang thành “thông tục hóa” mà tiêu chuẩn “hiểu ý” được coi trọng hơn là “đẹp lời”, nên ngôn ngữ dịch thuật càng ngày càng bị tính thực dụng làm mờ đi vẻ quý phái và trang nhã của ngôn từ nguyên bản. Tuy thế, phần tinh túy của văn chương và nghệ thuật luôn luôn có sự tách biệt gần như tự nhiên; nghĩa là những giá trị tài hoa và tinh túy của nghệ thuật vẫn đời đời tỏa sáng. Hơn 300 năm trước, lời bản dịch Chinh Phụ Ngâm đến bây giờ vẫn còn là phong quang hoa gấm. Mở đầu cho bài ca người vợ có chồng đi chinh chiến phương xa, mới hai câu đầu trong 412 câu của khúc ngâm đã chinh phục và cuốn hút lòng người mà tác động mạnh nhất chính là lời dịch thuần Việt lột tả được hết vẻ bi tráng chiến chinh và thân phận làm người.        

Từ  nguyên tác của Đặng Trần Côn:

 

“Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề thùy tạo nhân?”

 

mà dịch giả Phan Huy Ích – Đoàn Thị Điểm dịch là:

 

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi.

 Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

 Xanh kia thăm thẳm tầng trên

            Vì ai gây dựng cho nên nỗi này…”

 

 thì dịch là sáng tạo, là tái tạo làm thăng hoa ngôn ngữ và nội dung của nguyên tác chứ có đâu bóng dáng của khái niệm “phản” về cả hai mặt chữ nghĩa lẫn tâm tình!

Đâu đó hôm nay, phong cảnh đìu hiu trên đường thiên lý trong nguyên tác Tần Phụ Ca của Vi Trang hơn nghìn năm trước đang bắt gặp nguồn thấu cảm của Hạt Cát – Bạch Vân hơn nghìn năm sau.

Từ nguyên tác của Vi Trang:

東西南北路人絕

綠楊悄悄香塵滅

Đông tây nam bắc lộ nhân tuyệt,

lục dương tiễu tiễu hương trần diệt.

 

Hạt Cát – Bạch Vân đã dịch:

 

Trên đường đi Đông Tây Nam Bắc,

Nhìn trước sau lặng ngắt bóng người,

Hàng dương xanh thẳm mây trời,

Âm thầm cát bụi ngậm ngùi đường xa.

           

            Chuyển ngữ và diễn ý đạt đến được như thế quả là… hảo dịch giả!

            Hạt Cát – Bạch Vân đã dịch Tần Phụ Ngâm theo thể thơ song thất lục bát. Đây là thể thơ đặc thù của Việt Nam xuất phát từ âm điệu ca dao êm đềm lục bát dân tộc kèm với tiếng nhấn đĩnh đạc của hai câu bảy chữ dạo đầu. Dịch giả đã “biến tấu” khúc ngâm Tần Phụ thành 372 câu thơ lục bát sau khi đã gẫm đọc nguyên tác bằng chữ Hán, rồi tuần tự dịch âm ra tiếng Hán Việt, chuyển nghĩa ra tiếng thuần Việt và diễn đạt thành thơ Việt thấm đẫm lòng người.

            Người xưa có nói, văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ. Có lẽ phải thêm ý nữa cho tiến trình chuyển tải, thưởng ngoạn và dịch thuật văn chương là muốn đọc, dịch và thưởng thức tác phẩm văn chương bất hủ cho trọn vẹn thì cũng cần có cảm xúc tương tự, nếu không ngang thì cũng đồng cảm, chung tầm “huyết lệ” với tác giả.

            Sự khen tặng nhiệt tình đối với người cầm bút, không gì quý hơn bằng đọc, chiêm nghiệm và chia sẻ.

            Mời những tấm lòng yêu văn học nghệ thuật – phi thời gian và phi không gian –  ngâm khúc Tần Phụ qua phần dịch giải trong sáng, công phu và tài hoa của một nữ sĩ cầm bút khiêm cung với bút hiệu Hạt Cát và một tâm hồn mây trắng thong dong với tác phẩm thi ca Bạch Vân Vô Sở Trú.

            Mọi người thường có thể khác nhau về hình tướng, nhưng sẽ hiếm khác nhau về tiếng khóc và nụ cười.                                                  

 

                                 Sacramento, tuần đầu Xuân 2022

                               Trần Kiêm Đoàn  

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Advertisment -

MỚI CẬP NHẬT

Recent Comments