Những Bài Học Cho Hoa Kỳ Qua Cuộc Chiến 20 Năm Ở Afghanistan  

Cali Today News – Nhận định của Đô Đốc James Stavridis, cựu tư lệnh bộ chỉ huy quân sự Liên Minh Bắc Đại Tây Dương – NATO- . Ông đang là Phó Chủ Nhiệm nhóm Carlyle Group đặc trách nghiên cứu về tình hình thế giới.  

Giai đoạn kết thúc của một cuộc chiến thường đau đớn. Trong cả  một quá trình dài, xuyên qua vài chính quyển khác nhau, công luận Mỹ đã trở nên mệt mỏi vì cuộc chiến ở Afghanistan , và họ chỉ muốn một điều đơn giản là phải chấm dứt cuộc chiến ở đây. Chính quyền của Tổng thống Biden quyết định tháo gỡ lớp băng của vết thương, song tiếc thay việc tháo băng đó làm cho máu chảy đầm đìa. Chúng ta chứng kiến danh dự của người Mỹ bị băng huyết, cũng như cái chết tức tưởi của ước mơ, của hy vọng mà nhiều người Afghan mong chờ, đặc biệt là phụ nữ và các em bé gái của nước này.   

Vì đâu xảy ra nông nỗi đó? Mời các bạn nghe tôi chia sẻ hành trình của cá nhân tôi liên quan đến chiến tranh ở Afghanistan .  

Cuộc chiến tranh ở Afghanistan bắt đầu từ ngày 11 tháng Chín năm 2001, lúc đó tôi vừa được vinh thăng lên cấp tướng, đô đốc một sao. Ngôi sao mạ vàng mới tinh lấp lánh trên bộ quân phục màu xanh biển. Văn phòng làm việc của tôi đặt ở góc phía ngoài xa của Ngũ Giác Đài,tên là “E-ring”, xuyên qua một hành lang dài, tôi có thể trông thấy chiếc phản lực cơ Boeing 757 đâm vào tòa nhà qua khung cửa sổ lớn của căn phòng. Mũi của chiếc máy bay American Airlines, Flight # 77, đâm vào tầng một của tòa nhà, trong lúc tôi đang đứng ở tầng lầu 4 chỉ cách khoảng 150 feet, và tôi đã thoát chết.   

Khói và lửa bao trùm nguyên cả một góc của Ngũ Giác Đài, trong đó có văn phòng làm việc của tôi, tôi chạy vội xuống cầu thang bộ và phóng ra ngoài sân cỏ. Tôi làm mọi cách để tự cứu lấy mình, và tôi chỉ bị thương nhẹ khi nhân viên cấp cứu đến. Điều khiến tôi nhớ mãi trong ngày hôm đó là tôi cảm thấy bực tức vì trong vài chục năm của đời binh nghiệp, tôi đã sống sót qua nhiều lần nguy hiểm, thế mà ngày hôm đó tôi lại suýt chết ngay tại bin đinh an toàn nhất thế giới.   

Vài tuần sau, tôi được giao trách nhiệm lãnh đạo một đơn vị ưu tú của Hải Quân, tên là “Deep Blue” phụ trách việc thảo ra chiến lược, và những cuộc hành quân chiến thuật để sử dụng khả năng của Hải Quân trong “Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố.”. Sau một năm công tác ở đây, tôi được thuyên chuyển đi công tác trên biển. Tôi được bổ nhiệm làm tư lệnh hàng không mẫu hạm nguyên tửU.S.S Enterprise  thực hiện những cuộc hành quân ở Mỏm Sừng Phi Châu, sau đó ở cả hai nơi Afghanistan và Iraq . Một thời gian sau, tôi trở thành phụ tá đặc biệt cho Bộ trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, cuối cùng thì trở thành Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Quân Sự khối NATO có trách nhiệm về chiến lược với cuộc chiến tranh ở Afghanistan.  

Do đó, tôi đã can dự sâu đậm với cuộc chiến tranh có cái tên đáng tiếc là “Forever Wars” “Cuộc Chiến Kéo Dài Không Có Ngày Kết Thúc”, bắt đầu từ năm 2001 ở Afghanistan, rồi chuyển sang cuộc phiêu lưu sai lầm ở Iraq, đến ngày tôi nghỉ hưu, ra khỏi binh chủng Hải Quân vào năm 2013 với chức vụ Tư Lệnh Quân Sự ở khối NATO. Mọi lực lượng quân sự của Hoa Kỳ đều đã thay đổi qua kinh nghiệm chiến đấu từ hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq . Tôi đã chứng kiến với sự buồn bã trong cuộc rút lui hoảng loạn, vô trật tự của những thường dân Mỹ, của các nhà ngoại giao, và lính Mỹ ra khỏi Afghanistan khi thủ đô Kabul bị rơi vào tay Taliban  

Tất cả những sự kiện trên đây có nghĩa như thế nào, và đâu là bài học mà giới quân sự Hoa Kỳ rút tỉa được qua cuộc chiến tranh  kéo dài này?    

Hơn 3,000 lính Hoa Kỳ và đồng minh bị chết, hàng chục ngàn người bị thương tật nặng, và hàng ngàn tỉ đô la đã đổ vào đây- đấy là chưa nói đến hàng trăm ngàn dân Afghan bị giết hay bị thương.  

Trong một chừng mực nào đó, chúng ta có thể nói rằng mọi cuộc chiến tranh đều là sự phí phạm về thời gian, tiền của, và quan trọng nhất là máu đổ thịt rơi. Nhưng tôi tin rằng những quân nhân đi tham chiến ở Afghanistan có thể ngẩng đầu cao trong hãnh diện và nói rằng: Chúng tôi được gửi đi chiến đấu ở Afghanistan để đi tìm những kẻ đã tấn công vào nước Mỹ trong vụ 9/11 và đem chúng nó ra trước công lý để xét xử, cũng như để ngăn ngừa một vụ tấn công khủng bố khác xảy ra một lần nữa trên lãnh thổ Hoa Kỳ khi không gian chưa được quản lý chặt chẽ. Trong suốt 20 năm, chúng ta đã làm được nhiệm vụ ngăn chặn được tấn công khủng bố. Những người lính Mỹ anh hùng đã đứng từ bên kia thế giới để bảo vệ cho đất nước của mình.   

Người dân Afghan cũng thu hoạch được nhiều lợi lạc. Một phần là nhờ vào chiến lược chống nổi dậy của chúng ta. Hàng triệu người từ nay không còn mù chữ, họ biết đọc, biết viết, nhiều người trong đó là các em gái và phụ nữ. Tuổi thọ của người dân tăng lên rất nhiều, và tỉ lệ chết khi còn nhỏ cũng giảm đi đáng kể. Việc tiếp cận với thông tin, khoa học kỹ thuật mới, hệ thống hạ tầng cơ sở, và y tế thực sự được cải tiến, mặc dù những điều này đang có nguy cơ bị hư hao khi Taliban nắm quyền cai trị.   

Tôi đã từng ký 2,026 lá thư phân ưu để gửi đến gia đình những người lính tử trận khi tôi làm việc ở NATO. Trong đó có tới gần một phần ba được gửi đến gia đình thân nhân ở Âu châu, và những nước đồng minh. Tôi nói với gia đình những tử sĩ rằng con em của họ đã hy sinh trong sứ mệnh cao quý bảo vệ cho hơn 50 quốc gia khác nhau. Nhưng có lẽ tôi nên thêm rằng lẽ ra chúng ta phải làm tốt hơn, ít người hy sinh, và tốn ít tiền hơn, biết dùng những kinh nghiệm học hỏi qua chiến tranh Việt Nam và chiên tranh ở Afghanistan lần trước. Chúng ta lẽ ra phải biết cách truyền đạt, giải thích tốt hơn về mục đích, về lý tưởng dân chúng Mỹ muốn đạt tới, và muốn giúp người dân ở nước chúng ta đang chiến đấu. Lẽ ra chúng ta phải biết quản lý tài nguyên của chúng ta, biết ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng, và phí phạm tài nguyên tốt hơn. Lẽ ra chúng ta nên từ bỏ thái độ kiêu căng, tự mãn ra ngoài trước khi đến giúp nước bạn.   

Tất cả là những hình ảnh khá rõ ràng khi chúng ta hồi tưởng nhớ lại cuộc chiến đấu của tổ tiên người dân Afghan chống lại đế quốc Nga Xô Viết hồi thế kỷ 20, đế quốc Anh hồi thế kỷ 19, chống lại đại đế Alexander ngày xa xưa. Giống như ở Việt Nam, quân đội Mỹ không hề bị đánh bại ngoài chiến trường, như một sĩ quan quân đội Bắc Việt từng nói với sĩ quan Mỹ sau chiến tranh: “Điều đó rất đúng, nhưng không liên quan gì đến việc thua trận của người Mỹ.”.. Tất cả những sự kiện trên đều có thể tiên đoán trước được trong quá trình diễn tiến của chiến tranh. Câu hỏi chính được đặt ra là vì sao chúng ta không học được bài học của lịch sử?  

Cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề: “Ai đã thua trong cuộc chiến tranh Afghanistan ?” mới chỉ là bước đầu. Giống như trường hợp chiến tranh Việt Nam , có vô số điều hoài nghi được thảo luận mãi không hết. Lịch sử sẽ san định, phân loại rõ những điều nghi vấn này.  

Đối với tôi, điều khiến tôi quan tâm hơn cả là chúng ta đã rút tỉa được những bài học nào trong cuộc chiến vừa qua?  

Trước hết là chúng ta phải học hỏi về lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của bất cứ quốc gia nào mà chúng ta muốn can thiệp vào – dù là can thiệp bằng quân sự hay bằng kinh tế. Ở Afghanistan , chúng ta đã thất bại vì không hiểu rõ những khía cạnh này, và thái độ kiêu ngạo, tự mãn của chúng ta đã khiến chúng ta phạm sai lầm này. Thực vậy, chiến tranh chống nổi dậy thường là một trò chơi kéo dài rất lâu, và chúng ta đã không để ý đến khía cạnh này, nó cần phải có sự kiên nhẫn. Nó không cho phép thái độ tự tin quá đáng, thiếu đảm bảo. Hơn thế nữa, tệ nạn tham nhũng là căn bệnh phổ biến ở khắp mọi tầng lớp trong chính phủ Afghanistan , tạo ra sự bất ổn trong chính phủ.   

Yếu tố thứ hai là sự thay đổi liên tục thành phần quân đội Mỹ đi công tác ở Afghanistan , nó gây thiệt hại trầm trọng. Thông thường lính Mỹ trong binh chủng Lục Quân hay Thủy Quân Lục Chiến đi công tác mỗi đợt kéo dài khoảng 1 năm, còn bên Hải quân đợt công tác kéo dài sáu tháng, bên Không quân thời gian công tác còn ngắn hơn nữa. Lực lượng đặc biệt thay đổi công tác vài tháng một lần. Tất cả những thay đổi trong hạn kỳ công tác như trên là điều cần làm xét theo khía cạnh nhân sự, nhưng nếu đứng về phương diện kinh nghiệm, và tính liên tục của công tác, thì đây là việc làm đưa đến hậu quả rất xấu.   

Điều thứ ba cần nói đến là chúng ta đã không ứng dụng hiệu quả kỹ thuật tân tiến nhanh chóng kịp thời trong cuộc chiến tranh mới này. Chúng ta đã mất thì giờ quá lâu để tìm cách chống lại loại bom nổ cải tiến, không kịp thời có hệ thống tình báo bằng vệ tinh để có kiểm soát chiến trường từ xa, cần phải đơn giản hóa thủ tục gửi không quân đến trợ lực trong thế đất hiểm nghèo của nước Afghanistan, thiết lập hệ thống truyền tin viễn thông hữu hiệu giữa các lực lượng đồng minh. Hồi tưởng lại, chúng ta đã thiếu sót không huấn luyện binh lính quốc gia Afghan chiến đấu nhanh nhẹn, gọn nhẹ, không lệ thuộc vào tiếp liệu, không quân yểm trợ, và kỹ thuật tình báo tinh vi, giống như lính của Taliban.  

 

Sau cùng, chúng ta đã không tạo được sự ủng hộ ổn định tại mặt trận ở quê nhà, trên nước Mỹ, để có thể chịu đựng thử thách lâu dài.  Dưới thời tổng thống Obama, khi số thương vong của lính Mỹ giảm bớt đa số lính Mỹ được đem về nước, cuộc chiến ở Afghanistan không còn được dân chúng và giới truyền thông lưu ý đến nữa. Qua nhiều chính quyền khác nhau, chúng ta đã thiếu sót không giải thích cho công luận hiểu rõ vì sao chúng ta có mặt ở Afghanistan , Hoa Kỳ và các nước đồng minh có những lợi lạc gì khi tham chiến ở quốc gia xa xôi này. Cơ hội rút hết lính Mỹ về nước được dùng làm chủ đề trong cuộc vận động tranh cử tổng thống của ông Trump, mặc dù thật ra đã có tới 90% trong số 100,000 lính Mỹ được đem về nước trước đó. Đề tài đó thực ra là đề tài rỗng tuếch, không có thực chất, nhưng nghe ra vẫn hấp dẫn đối với dư luận quần chúng. Khi ông Biden lên nắm chính quyền chỉ còn có 2,500 lính Mỹ ở Afghanistan , kể ra như thế cũng là rất ít. Nhưng về mặt chính trị, sự kiên nhẫn không còn nữa.   

Thật khó để có thể xây dựng một hoàn cảnh tốt, tích cực. Nếu may mắn lắm, tình hình ở nước này dưới sự cai trị của Taliban mới tránh được thảm họa ghê gớm. Nhưng chúng ta không thể trông chờ vào vận may.  

Trong nhiều năm, Hoa Kỳ phần nào đã tỏ ra lạc quan quá đáng, đến mức gần như ảo tưởng khi thực hiện những kế hoạch Hoa Kỳ mong muốn. Đáng buồn ở chỗ Chiến Dịch Operation Ending Freedom – Rút quân, và di tản thường dân- đã không kết thúc được chiến tranh hay đem lại tự do cho người dân Afghan. Kết quả của cuộc chiến tranh kéo dài này là nó giúp cho Hoa Kỳ không bị khủng bố tấn công trong hai thập niên. Nhưng rõ ràng là chúng ta cần phải học lại những bài học của lịch sử và ứng dụng nó vào những trường hợp cần thiệp trong tương lai, nếu công chúng ta sẽ gặp phải những thất bại khi chúng ta kết thúc sự can thiệp quan trọng mới ở ngoại quốc.   

Bài nhận định của Đô đốc James Stavridis trên báo TIME ngày 13/9/2021  

Nguyễn Minh Tâm  dịch  

Bình Luận

Lưu ý: về ý kiến của độc giả nhất thiết không phải là ý kiến của toà soạn nhật báo Cali Today. Tòa soạn không chịu trách nhiệm về nội dung ý kiến của độc giả. Xin qúy độc giả góp ý kiến xây dựng, với ngôn ngữ phù hợp, tránh những ngôn ngữ thô tục, mạ lỵ, chụp mũ hay mạ lỵ cá nhân. Nhật báo Cali Today khuyến khích tự do phát biểu ý kiến qua phân tích, nhận định, trình bày quan điểm và ý kiến của mình, nhưng không mạ lỵ, bôi nhọ người khác hay hội đoàn bằng những nội dung và ngôn ngữ không phù hợp. Chúng tôi dành quyền không đăng hay xóa bỏ những ý kiến đóng góp mang nội dung và ngôn ngữ không phù hợp mà không nhất thiết phải thông báo trước hay trình bày lý do. Trân trọng và mong được qúy độc giả xa gần hợp tác. Những trường hợp vi phạm những điều nói trên nhiều lần, chúng tôi buộc phải block (khóa) lại trương mục của người cố tình vi phạm. Vì quá nhiều độc gỉa post comments, trong đó có một số không phù hợp nội quy, và nhiều khi tòa soạn không kịp phát hiện, nên nếu qúy độc giả nào phát hiện bất cứ comments nào không phù hợp nội quy, xin báo cho tòa soạn biết qua email nguyenxnam@yahoo.com. Trân trọng cám ơn. Nhật báo Cali Today

blog comments powered by Disqus