Saturday, December 3, 2022
spot_img

Cuộc binh biến năm 1966 tại Quân Đoàn I theo sử liệu của Quân Đội Mỹ và CIA «b.2» -Đào Văn

Đào Văn

 Đại sứ Lodge và Tướng Westmoreland đã rời  Việt Nam  đi tham dự hội nghị tại Honolulu, trong khi lực lượng chính phủ,do Viên chỉ huy, chiếm Đà Nẵng vào sáng sớm Chủ nhật 15.5.1966
 Đính bỏ chạy chạy đến Huế, cùng với Thi, Nhuận, một số tỉnh trưởng bất đồng chính kiến, và các Phật tử công khai tố cáo sự trở lại của quân đội chính phủ.
 Tướng Cao,  không tha thiết  đến việc chỉ huy quân đoàn, HĐTL đã ép buộc ông ta nhận nhiệm vụ – từ chối  ra lệnh tấn công vào các chùa ở Đà Nẵng

 Cố vấn Mỹ đề xuất việc  không  tiếp tế cho lực lượng  bất đồng chính kiến, một bước mà sau đó Tướng Viên nhiệt tình tán đồng
 Người Mỹ cố gắng thuyết phục Thi và Đính bằng cách đổ lỗi cho các phần tử cực đoan Phật giáo trong Phong trào Đấu tranh, đặc biệt là Trí Quang
 CIA: Trí Quang đã thừa nhận khi lánh nạn tại Đại sứ quán Mỹ việc lập kế hoạch … nhưng phủ nhận việc cố tình xúi giục vụ bạo động xảy ra vào ngày 8 tháng 5, 1963 dẫn đến cái chết của 8 người …

Tiếp theo kỳ trước

Sài Gòn hành động

Đại sứ Lodge và Tướng Westmoreland đã rời  khỏi đất nước để đi tham dự một kế hoạch D tại hội nghị ở Honolulu khi lực lượng chính phủ, do Viên chỉ huy, chiếm Đà Nẵng vào sáng sớm Chủ nhật, ngày 15 tháng Năm. Hai tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Nam Việt Nam, được hỗ trợ bởi xe tăng của Quân đội Nam Việt Nam và được máy bay của Không quân Nam Việt Nam yểm trợ, di chuyển nhanh chóng vào thành phố và bảo vệ văn phòng thị trưởng, đài phát thanh, BCH Quân đoàn I và các cơ sở quân sự khác, và các đồn cảnh sát. Hai tiểu đoàn dù dưới quyền chỉ huy của Tướng Đống tăng viện. Cuộc giao tranh diễn ra rất hạn chế, vì hầu hết những người bất đồng chính kiến đã rút vào bên trong một số ngôi chùa Phật giáo, nơi mà quân đội chưa thể tấn công. Kỳ và Có sau đó có thêm Viên gia nhập, và trong bốn ngày tiếp theo, một hiệp định đình chiến không dễ dàng xảy ra bên trong thành phố.

 Khi Tư lệnh Quân đoàn I đương nhiệm, Tướng Đính, phản đối hành động này, Hội đồng các Tướng Lãnh đã thay thế ông bằng Tướng Huỳnh Văn Cao. Trước tiên, Đính bỏ chạy đến trụ sở của Tướng Walt và sau đó chạy về phía Bắc đến Huế, nơi ông cùng với Thi, Nhuận, một số tỉnh trưởng bất đồng chính kiến, và các Phật tử công khai tố cáo sự trở lại của quân đội chính phủ. Nhuận đặt các đơn vị của Sư đoàn 1 tiến về Huế và tại phi trường Phú Bài gần đó nhưng gặp trở ngại không di chuyển được để tăng viện cho Đà Nẵng. Tư lệnh Sư đoàn 2, Tướng Lãm, vẫn trung thành với chính phủ, nhưng một số  đơn vị của ông vào Đà Nẵng tham gia cuộc khởi nghĩa. Lãm cảnh báo rằng bất kỳ cuộc tấn công nào vào các ngôi chùa sẽ gây ra nhiều lính đào ngũ hơn và thậm chí đề nghị phục hồi Thi làm tư lệnh quân đoàn.

Sự tham gia của người Mỹ trong cuộc hành quân tại Đà Nẵng lần thứ hai là rất ít. Theo Tướng Westmoreland, các quan chức Hoa Kỳ đã bị bất ngờ khi HĐTL đã không thông báo cho ông ta về hoạt động sắp xảy ra . Cả Westmoreland và Lodge vẫn còn ở Hawaii đều tách mình ra khỏi cuộc khủng hoảng về mặt chính trị. Ngoại trưởng Rusk, lo lắng rằng các đại diện của ông không được hỏi ý kiến trước khi vụ tấn công xảy ra, và đã ra lệnh cho Phó Đại sứ William J. Porter đình chỉ chiến sự ngay lập tức. Ông chỉ thị cho Porter và, khi Lodge trở về, chính đại sứ phải nhấn mạnh rằng các quan chức Hoa Kỳ phải chịu mọi hành động của chính phủ, yêu cầu để các chùa chiền được yên ổn và cần đạt được một giải pháp thỏa hiệp càng sớm càng tốt. Cũng theo lời khuyên của Rusk, MACV đã bác bỏ  tất cả các yêu cầu của HĐTL về sự hỗ trợ hàng  không của Hoa Kỳ và một lần nữa rút các cố vấn khỏi tất cả các đơn vị liên quan. HĐTL lo lắng rằng Hoa Kỳ nếu không quan tâm có thể làm suy yếu chính quyền Sài Gòn thêm nữa.

Vào ngày 16 tháng 5, Walt đã gặp tư lệnh mới (và là người thứ tư) của Quân đoàn I Việt Nam, Tướng Cao, ông ta tiết lộ với với Freund và cả Walt, rằng ông  ta không tha thiết  đến việc chỉ huy quân đoàn và các thành viên khác của HĐTL đã ép buộc ông ta nhận nhiệm vụ. Westmoreland đã đề nghị giữ lại Đính, nhưng quá trễ vì ông ta đã tham gia Phong trào Đấu tranh ở Huế.

  • Tướng Cao từ chối ra lệnh tấn công vào các chùa

Ngày 17 tháng 5, Cao bay trực thăng của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đến Huế để trao đổi với Thi và Nhuận. Cùng đi với anh ta có chánh văn phòng của Walt,Tướng Jonas M. Platt (USMC), và Phó cố vấn cao cấp của Quân đoàn I, Đại tá Archelaus L. Hamblen, Jr. Sau khi Thi và Nhuận từ chối gặp ông ta, Cao quay trở lại trực thăng và chuẩn bị khởi hành thì khoảng một trăm sinh viên. và binh lính lao thẳng vào bệ trực thăng. Cao gặp khó khăn khi lên máy bay, nhưng khi chiếc máy bay bắt đầu bay lên, một trung úy Nam Việt Nam bắn vào  trực thăng bằng một khẩu súng lục cỡ nòng 45.  Xạ thủ tại cửa trực thăng của Mỹ bắn trả lại, khiến viên trung úy tử vong và làm bị thương một số binh sĩ Nam Việt Nam khác.  Mặc dù sau đó, một tỉnh trưởng địa phương cho rằng vụ việc là âm mưu ám sát Cao do một người cháu của Trí Quang, là một đại đội trưởng Sư đoàn 1 cầm đầu, Trí Quang phủ nhận cáo buộc này và đổ lỗi cho xạ thủ Mỹ đã khơi mào vụ việc. Quá hoảng sợ, Cao tiếp tục đến BCH Sư đoàn 2 của Tướng Lãm tại Quảng Ngãi, nơi được tiếp đón thân mật hơn.

Cao gặp khó khăn trong việc quay trở lại Đà Nẵng, vì ông ta gặp thêm rắc rối với Đại tá Loan, lúc này là Cảnh sát trưởng Quốc gia. Loan khăng khăng rằng Cao cần phải ra lệnh tấn công vào các chùa ở Đà Nẵng và có vẻ như đe dọa vị Tư lệnh Quân đoàn nếu ông ta từ chối. Đôi bên còn đang  tranh cãi, Đại tá Hamblen thình lình đến nơi và thấy Cao bị Loan và một số cảnh sát vũ trang của Loan bao vây  Cao. Sợ hãi, Cao rời khỏi địa điểm  cùng Hamblen và sau đó cầu xin Tướng Walt cho đi Mỹ tị nạn. Viết thư cho Westmoreland ngay sau đó, Cao xin được đến Hoa Kỳ và tình nguyện gia nhập Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ để chống lại chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ đâu trên thế giới.  Mặc dù trước là Viên, sau đó là Có, đã bay đến Đà Nẵng để cố gắng xoa dịu vị Tư lệnh Quân đoàn bất đắc dĩ, nhưng cũng không thể khuyên dụ ông ta rời khỏi khu doanh trại của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

  • Tướng Walt phá vỡ âm mưu phá nổ cây cầu

Ngày 18 tháng 5, Tướng Walt cũng đã đích thân tham gia vào việc đảm bảo một cây cầu quan trọng bắc qua sông Tourane ở Đà Nẵng khỏi bị phá hủy. Cây cầu nối liền thành phố với khu liên hợp kho tiếp liệu phía Đông Đà Nẵng. Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bảo đảm đầu cuối Đà Nẵng, trong khi quân nổi dậy giữ đầu còn lại. Khi Walt phát hiện ra rằng các công binh  Nam Việt Nam ủng hộ Phong trào Đấu tranh đã căng  dây dẫn nổ khắp cây cầu và kho chứa, ông ta đến  gặp riêng với sĩ quan Nam Việt Nam chỉ huy toán công binh. Trong khi cả hai thảo luận sôi nổi trên cây cầu, một chuyên viên của Quân đội Hoa Kỳ đã bí mật cắt dây dẫn đến các khối chất nổ. Khi Walt vẫy tay làm hiệu cho TQLC của mình qua cầu, sĩ quan Nam Việt Nam phe nổi loạn ra lệnh kích hoạt cho nổ các khối chất nổ. Nhưng, trước sự ngạc nhiên của sĩ quan này, chất nổ không phát nổ, và lực lượng của Walt đã bảo vệ toàn bộ cây cầu mà không bị chống đối gì  thêm. ”

 Chiều ngày 19 tháng 5, Kỳ và Thiệu cuối cùng đã quyết định hành động dứt khoát. Do Cao tiếp tục từ chối lệnh tấn công vào các chùa nên cuối cùng họ đã bảo tướng Viên thực hiện công việc đó. Dưới sự chỉ huy của Đại tá Trưởng, năm tiểu đoàn, quân số khoảng trên 3300 quân nhân, đã cưỡng chiếm hầu hết các chùa và các cơ sở quân sự còn lại trong thành phố. Trong nỗ lực kiềm chế thương vong, Trưởng đã bao vây hai trung tâm kháng chiến chính, nằm ở chùa Tân Linh và Thịnh Hội, và đề nghị ân xá cho bất kỳ ai đầu hàng.

Các quan chức Mỹ lại tỏ ra khó chịu trước cuộc giao tranh mới, nhưng họ khó có thể làm được gì  nhiều. Tướng Walt đưa một đại đội  Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đến để bảo vệ trụ sở chính của ông ta, và trong những ngày sau đó, các cơ sở của Lực lượng Thủy quân Lục chiến và Không quân Hoa Kỳ đã bị tấn công bởi hỏa lực vũ khí cá nhân, đạn cối, hỏa tiễn và đạn pháo của máy bay, gây ra một số thương vong. Khi máy bay của Nam Việt Nam  bắn nhầm vào các khu vực thuộc trụ sở Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Walt đe dọa sẽ bắn hạ các máy bay vi phạm, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập các máy bay chiến đấu phản lực của Mỹ và Nam Việt Nam bay qua lại trên bầu trời thành phố. Cuối cùng, sau cuộc trao đổi thông điệp sôi nổi giữa Đà Nẵng, Sài Gòn và Washington, Việt Nam đã đồng ý đình chỉ tất cả các cuộc tấn công thành phố bằng không quân trong giới hạn.

Trong khi Trưởng chỉ đạo quân đội chính phủ tại Đà Nẵng, sĩ quan hành quân của Bộ Tổng tham mưu miền Nam Việt Nam, Tướng Trần Thanh Phong, nắm quyền chỉ huy tạm thời Quân đoàn I. Cùng lúc đó, việc tuyển chọn một tư lệnh quân đoàn khác bắt đầu. Lần này Bộ Chỉ Huy xem xét việc thuyên chuyển Tướng Vĩnh Lộc rời khỏi khu vực Quân Đoàn II, hoặc theo đề nghị của Westmoreland, triệu hồi một chuyên gia lưu vong, Tướng Đỗ Cao Trí, từ Hồng Kông. Cuối cùng, có lẽ vì lòng trung thành kiên định của ông ta, chính phủ đã giải quyết Tư lệnh Sư đoàn 2, Tướng Lãm, và cuối tháng ông chính thức nhậm chức. Lãm là Tư lệnh Quân đoàn thứ sáu ở khu phía Bắc trong vòng chưa đầy ba tháng.

Lo lắng trước tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam xấu đi  và phản ứng bất lợi của công chúng Mỹ đối với nó, Washington bắt đầu gây áp lực buộc các quan chức Mỹ tại Việt Nam phải có vai trò tích cực hơn trong bối cảnh đang trở thành một cuộc nội chiến. Khi trở về Sài Gòn vào ngày 20 tháng 5, Westmoreland nhận thấy một thông điệp mạnh mẽ từ Tướng Wheeler chỉ đạo ông sử dụng tất cả ảnh hưởng của mình để nhanh chóng kết thúc cuộc khủng hoảng chính trị. Hiện nay ở Hoa Kỳ có một cảm giác rằng các đơn vị Hoa Kỳ đang thực hiện tất cả các cuộc giao tranh chống VC,  trong khi những người Nam Việt Nam đang nhúng tay vào các âm mưu chính trị. Chủ tịch JCS muốn biết liệu người miền Nam Việt Nam hiện nay có cảm thấy rằng chúng tôi sẽ còn  “bám chặt vào Việt Nam” và họ có thể gạt bỏ các mong muốn của chúng tôi hay không.

  • Đề nghị cắt tất cả viện trợ  của Hoa Kỳ cho Quân đoàn I.

Ngày hôm sau Tướng Wheeler yêu cầu Westmoreland và Lodge làm rõ sự bất mãn của người Mỹ về tình hình và tổ chức  một cuộc họp giữa hai phe tại một địa điểm an toàn. Bản thân Wheeler và Đại sứ W. Averell Harriman đã được chuẩn bị để đứng đầu một nhóm đặc biệt để hỗ trợ các cuộc đàm phán. Trong lúc đó, Chủ tịch JCS đề nghị cắt tất cả viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ cho Quân đoàn I, rút toàn bộ quân đội và các cố vấn dân sự tại khu vực, và có lẽ sẽ tạm dừng tất cả các hoạt động chiến đấu tấn công của Mỹ ở đó.

Westmoreland trả lời rằng, trái ngược với ấn tượng của Wheeler, tình hình ở khu vực phía Bắc là “nghiêm trọng” nhưng “không tuyệt vọng”, đánh giá của riêng ông bây giờ là lạc quan. Chính quyền kiểm soát phần lớn Đà Nẵng, Sư đoàn 2 vẫn trung thành, bộ chỉ huy Đặc khu Quảng Nam đã trở lại quyền kiểm soát của chính quyền, và Tiểu đoàn 11 Biệt động quân nổi dậy tan rã. Ông cũng lưu ý rằng Tướng Phong lúc này đang hỗ trợ cho ông Cao  và ngay cả Tướng Nhuận, vẫn chỉ huy Sư đoàn 1 tại Huế, “dường như quan tâm hơn đến việc chỉ huy sư đoàn của ông chống lại Việt Cộng “.  Thi và Đính, hai cựu tư lệnh quân đoàn đang ẩn náu ở Huế, chỉ làm Nhuận bực mình thêm, trong khi nhà lãnh đạo Phật giáo, Trí Quang, “có thể sợ hãi đã bỏ chạy.” – while the Buddhist leader, Tri Quang, “may be running scared.” Westmoreland cảm thấy rằng Thi là “người duy nhất có đủ ảnh hưởng để đưa khu vực Quân đoàn I trở lại bình thường trong thời gian ngắn” và đang thúc giục Tướng Walt tổ chức một cuộc gặp giữa Thi, Kỳ và Đính tại Chu Lai, một căn cứ tại địa phương của Mỹ. Ông nói thêm, Thi có thể hợp tác, nếu kẻ thù truyền kiếp của ông ta, Bộ trưởng Quốc phòng Có, “bị loại khỏi hiện trường.”

Sau đó trong ngày, chỉ huy MACV lặp lại ý kiến của mình “rằng toàn bộ vấn đề đang [bị] thổi phồng … bởi vì … các phóng viên có mặt tại hiện trường cố gắng tạo dựng tên tuổi và đóng một vai trò nào đó.” Ông coi các biện pháp do Wheeler đề xuất là quá quyết liệt. Việc rút các cố vấn hoặc ngừng sự trợ giúp của Hoa Kỳ là không thể chấp nhận được ; Việc ngừng các hoạt động chiến đấu của Hoa Kỳ là “không thể chấp nhận được” và “không thể tưởng tượng nổi”; và việc tái bố trí lực lượng Hoa Kỳ từ khu vực Quân đoàn I là vô lương tâm. Nhân viên của ông, Westmoreland lưu ý, đã “đưa ra các biện pháp thiết thực để khôi phục trật tự với những thương vong tối thiểu” và hiện đang cố gắng tập hợp đại diện của cả hai bên lại với nhau.

Vào ngày 21 tháng 5, Westmoreland bay đến Chu Lai, nơi ông ta khuyên Tướng Walt “nên bắt đầu sử dụng ảnh hưởng của chúng tôi ở hậu trường để cố gắng loại bỏ bất kỳ lực lượng VNCH nào … khỏi Nhóm Đấu tranh” và tiếp quản Đà Nẵng do phe bất đồng chính kiến nắm giữ “bằng đàm phán hơn là hành động quân sự nếu có thể.” Ngày hôm sau, ông gặp các sĩ quan và nhân viên hậu cần của mình và người đứng đầu Nhóm Cố vấn Hải quân Hoa Kỳ để thảo luận về việc nắm quyền kiểm soát tất cả các hoạt động hậu cần của Nam Việt Nam ở khu vực phía Bắc, đề xuất việc  từ chối tiếp tế cho lực lượng  bất đồng chính kiến, một bước mà sau đó Tướng Viên được nhiệt tình tán đồng.

Ngày 23 tháng 5, Tướng Walt đã mở các cuộc đàm phán với lực lượng nổi dậy tại kho đạn Đông Đà Nẵng , ông ta đã được sự đồng ý về một chiến dịch phối hợp của Mỹ-Nam Việt Nam. Hai ngày sau ông ta bắt đầu phân phối nhiên liệu cho Sư đoàn 1 Nam Việt Nam, và một ngày sau đó, TQLC của ông bắt đầu một loạt các cuộc hành quân phối hợp với các đơn vị của sư đoàn nhằm thu hút sự chú ý của lực lượng này khỏi cuộc nổi dậy tại Huế.

Trở lại Đà Nẵng, sự lạc quan của Westmoreland đã sớm được chứng minh. Vào ngày 21 tháng 5, những người bất đồng chính kiến ở chùa Tân Linh, bao gồm cả Đại tá Yêu, đã đầu hàng và hai ngày sau những người còn lại đầu hàng. Trong khi cảnh sát của Đại tá Loan bắt thị trưởng Đà Nẵng, các máy bay của Không quân Nam Việt Nam đã giải tán một tiểu đoàn bất đồng chính kiến hành quân vào thành phố từ Huế. Đến ngày 24 tháng 5, Đà Nẵng hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. Theo ước tính sơ bộ của Hoa Kỳ, thương vong cho cả hai bên bao gồm 150 người Nam Việt Nam chết và 700 người bị thương, và 23 lính Mỹ khác bị thương.

Trong cùng thời gian đó, Westmoreland, Walt, và các đại diện của họ đã tiến hành một loạt các cuộc hội đàm chính thức và không chính thức với các nhà lãnh đạo quân sự cao cấp của miền Nam Việt Nam: Kỳ, Thiệu, Có, Viên, Cao, Thi và Đính. Người Mỹ cố gắng thuyết phục Thi và Đính bằng cách đổ lỗi cho các phần tử cực đoan Phật giáo trong Phong trào Đấu tranh, đặc biệt là Trí Quang (blaming the Struggle Movement on Buddhist extremists, especially Tri Quang) , và ân cần nói rằng cả hai vị tướng sẽ nhận các chức vụ quan trọng sau khi họ trở lại hàng ngũ. Đối với Tướng Thiệu, Westmoreland nhấn mạnh tầm quan trọng của dư luận Mỹ liên quan  các quyết định trong tương lai về việc bổ sung thêm quân đội Hoa Kỳ đến miền Nam Việt Nam và nguy cơ người Mỹ sẽ “có ấn tượng về sự mất đoàn kết nghiêm trọng.” Thiệu hoan nghênh sáng kiến của Mỹ và phàn nàn rằng việc  không tham gia trước đây của Westmoreland  được coi như đã khuyến khích Phong trào Đấu tranh.

Vào ngày 27 tháng 5 và ngày 1 tháng 6, Tướng Walt bảo trợ các cuộc họp chính thức tại Chu Lai giữa các thành viên của các phe phái quân sự đối lập. Các nhà hòa giải Mỹ nhấn mạnh sự ủng hộ của họ đối với chính quyền Sài Gòn hiện tại và đảm bảo sự an toàn cho các tướng lĩnh bất đồng chính kiến nếu họ chấp nhận đề nghị ân xá. Việc chính quyền tiếp tục kiểm soát Đà Nẵng và việc công bố thỏa thuận giữa HĐTL và Viện Hóa Đạo đã củng cố lập trường của chính phủ. Cuối cùng Cao đồng ý trở về Sài Gòn, và mặc dù Thi và Đính vẫn ở lại khu vực phía Bắc, nhưng họ tỏ ý sẵn sàng hợp tác. Khi tỉnh trưởng Thừa Thiên (đồng thời là thị trưởng Huế) cũng đã  hợp tác với chính phủ, chỉ có Nhuận và Sư đoàn 1 của ông ta  còn cần sự thuyết phục.

Hội Đồng Tướng Lãnh/HĐTL  đã có kế hoạch đưa Nhuận và thuộc cấp của ông  ta trở lại với chính phủ. Tướng Viên ước tính rằng hai trong số ba trung đoàn của sư đoàn sẽ giữ vị trí trung lập, nhưng ông dự đoán sẽ gặp rắc rối từ một vài thành phần  tại BCH Sư đoàn và Trung đoàn thứ ba do một người cháu của ông Thi chỉ huy. Viên dự định gửi trung đoàn có khả năng gặp khó khăn nhất về phía Bắc đến tỉnh Quảng Trị để phối hợp tác chiến với các đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Nếu Nhuận từ chối hợp tác, HĐQL sẽ sa thải ông ta. Quân đội chính phủ sẽ phong tỏa các đơn vị nổi dậy còn lại tại Huế và đề nghị ân xá cho họ.

Kế hoạch của HĐTL vẫn chưa được thực hiện khi các hoạt động của Phong trào đấu tranh thay đổi lập trường chống Mỹ. Trong các cuộc bạo động có một số binh lính miền Nam Việt Nam tham gia, những người biểu tình đã đốt thư viện của Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ ở Huế vào ngày 26 tháng 5 và sáu ngày sau đó, cướp phá lãnh sự quán Hoa Kỳ ở đó. Các nhà quan sát Hoa Kỳ đã đổ lỗi các hành vi này cho nhà lãnh đạo Phật giáo, Trí Quang (American observers blamed the acts on the Buddhist leader, Tri Quang). Vài ngày sau, sự liên hệ của chính quyền Sài Gòn với thành phần ôn hòa tại Viện Hóa Đạo bị phá vỡ, và các giáo sĩ Phật giáo một lần nữa lại liên kết chống lại chế độ. Lodge dự đoán rằng tình hình hiện đang bước vào giai đoạn “cuồng tín nếu không thực sự rùng rợn” và trích dẫn “nguồn tin từ các nhà Phật giáo-thần bí về những cuộc tự thiêu”.

Vào ngày 1 tháng 6, báo động trước tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng ở Huế, Tư lệnh mới của Quân đoàn I quyết định thi hành biện pháp quân sự.  Tướng Lãm sẽ điều động các lực lượng dự bị của trung đoàn trung thành nhất của Sư đoàn 1, được hỗ trợ bởi thiết giáp của Sư đoàn, tiến vào Huế từ phía Bắc để chiếm thành phố, trong khi lực lượng Dù và Thiết giáp từ Đà Nẵng di chuyển từ phía Nam vào làm lực lượng dự bị. Nếu Tướng Nhuận từ chối chỉ huy cuộc hành quân, Lãm sẽ đưa Phó Tư lệnh Sư đoàn 2, Đại tá Nguyễn Văn Toàn vào nhận nhiệm vụ. Tuy nhiên, kế hoạch đã được cho là quá sớm. Nhuận không những không chịu hợp tác mà còn bí mật lái xe đến Huế và cảnh báo cho Trí Quang về vụ hành quân sắp xảy ra. Với yếu tố bất ngờ và khả năng tiến hành cuộc hành quân sẽ tránh không gây thiệt hại nặng khi giao tranh, Lãm đã hủy bỏ kế hoạch.

Vào ngày 7 tháng 6, khi tình hình hỗn loạn ở Huế tiếp tục, các nhà sư Phật giáo đã đặt bàn thờ làm rào chắn trên các tuyến đường chính tại Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị và Qui Nhơn, đồng thời việc giao thông quân sự và dân sự phải dừng lại. Khi quân đội địa phương từ chối dỡ bỏ các bàn thờ, HĐTL quyết định sử dụng lực lượng của chính phủ.

Ngày 10 tháng 6, Kỳ bắt đầu thiết lập lực lượng cảnh sát chống bạo động đặc biệt dưới quyền của Đại tá Loan đóng quân tại ngoại ô Huế và vào ngày mười lăm, cử một chiến đoàn gồm hai tiểu đoàn Dù và hai  tiểu đoàn TQLC dưới quyền của Đại tá Trưởng tiến vào thành phố để đánh trận cuối cùng.

Giao tranh  kéo dài ở Huế trong bốn ngày. Phe đối lập vô tổ chức gồm khoảng một nghìn quân của Sư đoàn 1, phần lớn là binh lính từ các đơn vị yểm trợ. Được bảo vệ bởi lực lượng của Trưởng, công an của Loan đã dỡ bỏ các bàn thờ Phật và bắt giữ hầu hết các thủ lĩnh còn lại của Phong trào Đấu tranh, trong đó có Trí Quang (arrested most of the remaining leaders of the Struggle Movement, including Tri Quang). Bộ chỉ huy giao cho Trưởng quyền chỉ huy Sư đoàn 1, và đến cuối tháng 6, cả sư đoàn và Huế đều nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Vào ngày 23 tháng 6, quân đội chính phủ và cảnh sát tràn qua Viên Hóa Đạo ở Sài Gòn, tiêu diệt thành trì cuối cùng của các nhà lãnh đạo Phật giáo, và ngày 9 tháng 7, một tòa án đặc biệt đã bắt giữ Thi, Đính, Cao, Nhuận và Chuân.

  • Cuộc nổi dậy ở Quân đoàn I cuối cùng đã kết thúc.

Bên cạnh việc cắt giảm tương đối một chút các hoạt động quân sự, cuộc khủng hoảng còn ít ảnh hưởng đến chiến trường. Mặc dù bị bất ngờ trước tình hình hỗn loạn, nhưng Việt Cộng đã không tận dụng được. Chế độ Thiệu-Kỳ đã thử nghiệm thành công quyền lực của mình đối với các Phật tử và binh sĩ, do đó, dường như đã nâng cao vị thế chính trị của mình. Trong khi chính phủ đồng ý tổ chức bầu cử  quốc hội,  nhưng chống lại yêu cầu để quốc hội dự kiến thay thế chính phủ Kỳ. Mặt khác, một số chỉ huy giỏi – đặc biệt là Thi và Chuân – đã ra đi, và cách hành xử  của Lãm, tân tư lệnh Quân đoàn I, được coi là có lòng trung thành với chế độ Sài Gòn. Cuộc khủng hoảng cũng đánh dấu vị trí cuối cùng của những người theo đạo Phật với tư cách là một lực lượng chính trị trung gian, khiến người dân Việt Nam có ít sự lựa chọn giữa một bên là các tướng lĩnh Sài Gòn và một bên là Việt Cộng. [1]

CIA: Tình hình tại Miền Nam Việt Nam (16 June – 26 June 1966)

 Khả năng kích động đường phố của Phật giáo gần như bị loại bỏ vào tuần trước khi chính phủ Kỳ hoàn thành việc càn quét Huế và các thị trấn  lân cận, chuyển các nhà lãnh đạo bất đồng chính kiến đến Sài Gòn. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình rải rác của Phật giáo vẫn tiếp tục, bất chấp sự sụt giảm lớn về ảnh hưởng chính trị của Phật giáo ở miền Trung Việt Nam và sự chia rẽ nghiêm trọng trong giới lãnh đạo Phật giáo ở Sài Gòn. Các nhà lãnh đạo chính phủ, trong khi kỷ niệm ngày đầu tiên nhậm chức, đang giải quyết những khó khăn của họ với các Phật tử và chuyển sự chú ý của họ sang các vấn đề khác.

  • Tiến  triển tại Quân Đoàn I
  1. Hầu hết các biểu hiện công khai của phong trào “đấu tranh” hiện đã bị loại bỏ ở Huế. Tuy nhiên, sau khi chính phủ “tái quan tâm” thành phố bắt đầu vào ngày 16 tháng 6, các quan sát viên Hoa Kỳ đã báo cáo rằng nhiều hoạt động chính trị, tâm lý và hành chính cần phải được thực hiện ở đó trước khi quyền lực của chính phủ có thể được củng cố. Chính phủ đang có kế hoạch giữ lực lượng cảnh sát tại thành phố khoảng vài tháng, trong khi đó cảnh sát địa phương được tổ chức lại. Một số người bị bắt có thể bị xét xử và kết án vì các hoạt động chống chính phủ của họ. Một số văn phòng khu vực của chính phủ hiện ở Huế có thể được chuyển đến Đà Nẵng trong tương lai gần.
  2. Nhà sư  Trí Quang được cảnh sát chính quyền chở từ Huế vào Sài Gòn trong tuần. Ông ta được đưa vào một bệnh xá nơi ông  ta được cho là sẽ tiếp tục tuyệt thực kể từ ngày 26 tháng 6. Cảnh sát khẳng định rằng Quang không bị bắt, nhưng đã sàng lọc những vị khách đến thăm  ông ta. Sau khi tiếp xúc với một số tu sĩ Viện Hóa Đạo  trong đó có Tâm Châu, Quang được báo cáo là sẽ duy trì thái độ chống đối chính phủ. Tuy nhiên, cơ hội  hành động của ông ta dường như khá hạn chế.
  3. Trong một đợt  thanh lọc các tướng lãnh bất đồng chính kiến, các tướng Đính và Nhuận đã được chính phủ di chuyển từ Huế vào Sài Gòn. Cựu Tư lệnh Quân đoàn I, Tướng Thi cũng được cho là sẽ tự nguyện đến thủ đô sớm. Mặc dù tương lai của những người này và có thể là hai vị tướng khác – Chuân và Cao – vẫn chưa rõ ràng, nhưng một sĩ quan cấp cao của Việt Nam khẳng định rằng họ sẽ bị nghỉ hưu hoặc bị trừng phạt nặng hơn.
  4. Ngoài việc bắt bớ và thuyên chuyển các quan chức dân sự và quân sự tham gia vào phong trào “đấu tranh”, chính phủ còn làm giảm ảnh hưởng chính trị của Phật giáo ở miền Trung Việt Nam bằng cách di chuyển lực lượng từ  các tỉnh Quảng Trị và Bình Định  đến thủ phủ vào tuần trước để dập tắt những người chống chính phủ.  Tuy nhiên, các cuộc tuyệt thực, biểu tình lẻ tẻ và một vụ tự thiêu khác đã xảy ra ở các thị trấn khác nhau trong Quân đoàn I và II.
  • Đột Kích Viện Hóa Đạo  Sài Gòn
  1. Sau khi kẻ tình nghi giết một cảnh sát trú ẩn trong Viện Hóa Đạo, vào ngày 18 tháng 6, cảnh sát phong tỏa cơ sở, và cuối cùng vào ngày 23 tháng 6 đã đột kích vào Viện. Hầu hết trong số 500 người bị tạm giữ đã được trả tự do trong ngày sau khi kiểm tra giấy tờ tùy thân; một số trai tráng  tham gia vào lực lượng vũ trang sẽ bị xét xử sau này về  các hoạt động chống chính phủ. Nghi phạm đã bị bắt và được báo cáo đã thú nhận hành vi giết người.
  2. Mặc dù rõ ràng chính phủ đã lên kế hoạch trao lại quyền kiểm soát Viện cho Thượng Tọa Tâm Châu sau khi việc thanh lọc hoàn thành, Châu trong một thông cáo công khai đã lên án cuộc đột kích của chính phủ. Ông cho rằng sự tôn nghiêm của ngôi chùa đã bị xâm phạm và yêu cầu  chính phủ chịu trách nhiệm việc duy trì các tòa nhà và khuôn viên của Viện.
  3. Vào ngày 26 tháng 6, một ngôi chùa Phật giáo thứ hai bị công an chính phủ và lực lượng an ninh của QLVNCH đột kích, tịch thu một khẩu súng và 15 thanh niên trong độ tuổi quân dịch bị bắt. Không có nhà sư nào được báo cáo là đã bị ngược đãi và không có phản ứng nào từ các nhà lãnh đạo Phật giáo.
  • Sự Khác Biệt Chính Sách Trong Giới Lãnh Đạo Phật Giáo
  1. Sự chỉ trích mạnh mẽ của Tâm Châu sau nhiều ngày mà ông đã cố gắng chấm dứt một lần và mãi mãi về cuộc đối đầu giữa các Phật tử và chính phủ,  bằng cách cam kết ân xá từ chính phủ cho tất cả những người có liên quan đến việc kích động Phật giáo. Tuy nhiên, lời nói của ông có thể chỉ là một động thái nhằm tăng cường sự ủng hộ của ông với các tu sĩ khác trong viện. Châu đã mất quyền kiểm soát của Viện vào tay phe chủ chiến trong tuần trước và dường như ông ta chưa lấy lại được nó.
  2. Bất chấp sự chia rẽ về chính sách hiện nay giữa các nhà lãnh đạo Phật giáo và phong trào “đấu tranh” bị dập tắt,  ảnh hưởng chính trị của Phật giáo sẽ khó  ở mức thấp như hiện nay chừng nào các nhà lãnh đạo tầm cỡ như Trí Quang, Tâm Châu, và Thiên Minh vẫn hoạt động. Ngoài ra, sự phẫn nộ kéo dài đối với chính quyền Kỳ ở các thị trấn phía Bắc và sự thiếu hỗ trợ tích cực đối với chính quyền Sài Gòn có thể tạo cơ hội cho việc hoạt động của Phật giáo trong tương lai.
  • Chính phủ Kỳ chọn ngày 19.6 kỷ niệm 1 năm thành lập UBHPTƯ
  1. Tuyên bố một cách chung chung rằng vấn đề chống chính phủ đã được “giải quyết”, Thủ tướng Kỳ và các nhà lãnh đạo chính phủ khác hướng sự chú ý của họ đến lễ kỷ niệm một năm thành lập chính phủ vào ngày 19 tháng 6. Phấn khích nhờ thành công trong việc khắc phục phong trào “đấu tranh”, chính phủ hiện tại có vẻ tương đối thống nhất, mặc dù động lực dẫn đến sự chống lại bởi những người bất đồng chính kiến đến từ một phe tương đối nhỏ nhưng cứng rắn trong các lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, sự lắng dịu trong một khoảng thời gian  có thể khơi lại sự chia rẽ giữa các phe nhóm quân sự đã xảy ra trước đây.[2]

 CIA: Khác biệt đối xử với Phật Giáo giữa 1963 và 1966

Năm 1963 – Theo bản văn của CIA thực hiện ngày 27.9.1963. Được  phép loan tải ngày 6.11.2006, nhưng 10 năm sau, vào  ngày 19.12.2016 mới phổ biến trên thư viện online của cơ quan CIA.

Trí Quang, một Phật tử châm ngòi cho phong trào phản đối của Phật giáo tại Huế vào ngày 8 tháng 5 (sparked the eruption of the Buddhist protest movement in Hué on 8 May), đã thừa nhận khi lánh nạn tại Đại sứ quán Mỹ vào ngày 1 tháng 9 rằng ông đã lên kế hoạch từ lâu cho một chiến dịch như vậy (has admitted since taking refuge in the American Embassy on 1 September that he had long been planning such a campaign). Tuy nhiên, ông đã phủ nhận việc cố tình xúi giục vụ bạo động xảy ra vào ngày 8 tháng 5, dẫn đến cái chết của 8 người trong khi lực lượng an ninh nỗ lực giải tán một đám đông.”…”

Cho dù ngay từ đầu hay do sự thất vọng trong chiến dịch, hầu như không có gì nghi ngờ rằng Trí Quang và những người khác đã tích cực tổ chức một phong trào để lật đổ chính phủ (There is almost no question that Tri Quang and others were actively organizing – a vehicle to bring about the government’s overthrow) – mặc dù họ dường như không hợp tác với  các đối thủ chính trị truyền thống của Diệm.[3]

Năm 1966 – Với trích dẫn trên, vào  năm 1963  cho dù “tích cực tổ chức một phong trào để lật đổ chính phủ” phía Mỹ đã CUNG CẤP nơi cư trú cho TT  Thích Trí Quang lánh nạn tại sứ quán Mỹ để tránh cuộc bố ráp của chính phủ Đẹ I  VNCH.  Nhưng  3 năm sau,  1966 phía Mỹ làm ngược  lại không hậu thuẫn các đòi hỏi của phong trào đấu tranh,  CUNG CẤP phương tiện cho chính phủ Đệ II VNCH để chống lại phong trào chống đối của Phật Giáo… Phải chăng Mỹ thay đổi cách đối xử với Phong trào vì mục tiêu “CHIẾN LƯỢC” của Mỹ?

  • Mục tiêu CHIẾN LƯỢC của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam do Tướng Westmoreland tiết lộ …

Theo báo Hồn Việt 10.1995 – Tướng Westmoreland  đến Nam Cali Năm 1995, và dành cho đài Radio Little Saigon phỏng vấn V/v Tết Mậu Thân 1968 – và v/v tiến quân ra Bắc, do Việt Dũng phỏng vấn tháng 9/1995 và bài phỏng vấn loan trên báo Hồn Việt 10/1995:

Tướng Westmoreland: Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra. Và tôi sẽ thú tội với mọi người khi nghĩ lại, là tôi đáng lý ra đã phải loan báo những tin tức này đến mọi người. Và tôi biết rất rõ ràng những chi tiết. Tôi biết biết rõ ràng khi nào họ sẽ tấn công, và tôi cũng có đầy đủ những chi tiết để tiên đoán hậu quả của cuộc tấn công này.

Đây là con đường tiếp tế huyết mạch của miền Bắc vào Miền Nam. Không may cho chúng ta Ông Averell Harriman là một người rất có uy tín trong thời gian đó, và có thời gian từng giữ chức vụ phụ tá Tổng Trưởng Ngoại giao, và là cố vấn của Tổng Thống. Ông Averell rất là cứng rắn khi cho rằng cuộc chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam và điều này đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam, là chúng ta không phát triển cuộc chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ này. Chúng tôi đã có những cuộc xâm nhập bí mật vào đường mòn HCM và tấn công những đơn vị Bắc Việt dùng con đường này để tiếp tế cho Miền Nam, nhưng chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vì con đường này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều.

 Khác biệt về việc gửi quân Mỹ đến Việt Nam giữa 1963 và 1966

Ngoài khác biệt nêu trên đối với các phe phái, phong trào chống đối, còn về việc cho phép quân đội Mỹ đến tham chiến tại Việt Nam cũng có sự khác biệt…

  • Năm 1961-1963 –  Theo NARA – Chính phủ  Đê I VNCH từ chối không cho quân đội Mỹ vào tham chiến tại Việt Nam – Theo The Pentagon Papers, được NARA giải mật tài liệu và phổ biến trên Văn Khố Quốc Gia  online  năm 2011

 THE KENNEDY PROGRAM AND COMMITMENTS: 1961

Ngày 8-24 tháng 10 năm 1961- Taylor Mission to Vietnam – Vào ngày 18, ông Diệm nói rằng “Tôi không muốn quân đội  Mỹ tham gia vào  bất kỳ nhiệm vụ nào” (Diem said he  wanted no U. S. combat troops for any mission). Anh ta lặp lại yêu cầu ký kết hiệp ước phòng thủ  hỗ tương , muốn Mỹ  yểm trợ nhiều hơn cho QLVNCH” , cung cấp thiết bị hỗ trợ cho cuộc chiến (trực thăng, máy bay, v.v.).  Theo Văn khố quốc gia NARA, trang 26/197: Pentagon-Papers-Part-IV-B-1.pdf

 PHASED WITHDRAWAL OF U.S. FORCES  1962-1964

Ngày 5 tháng 10  1963 – Mcnamara -Taylor  met with  President and NSC– Tổng thống  đã phê duyệt các điều  khoản  về quân sự do Bộ Trưởng Quốc Phòng và Chủ Tịch TMLQ   …  – Bộ Quốc Phòng thông báo  kế hoạch rút 1.000 người vào cuối năm 1963 (announce plans to withdraw  1,000 men by the end of 1963). Theo  Văn khố quốc gia NARA, trang  15/65: Pentagon-Papers-Part-IV-B-4.pdf

  • Năm 1966 –  Chính phủ Đệ II VNCH ” MỜI – invite” Mỹ  đem quân đến Việt Nam…

Theo History-com ngày 08.03.1965 : “Vào ngày 08.03.1965 một con số  3.500 lính thủy quân lục chiến đổ bộ vào Đà Nẵng để bảo vệ căn cứ không quân của Hoa Kỳ. Vào ngày 1 tháng 3, Đại sứ Maxwell Taylor đã thông báo cho Thủ tướng Nam Việt Nam Phan Huy Quát rằng Hoa Kỳ đang chuẩn bị gửi Thủy quân lục chiến đến Việt Nam – (had informed South Vietnamese Premier Phan Huy Quat that the United States was preparing to send the Marines to Vietnam). Ba ngày sau, Đại sứ quán Hoa Kỳ gửi văn thư  chính thức, yêu cầu chính phủ Nam Việt Nam “mời” Hoa Kỳ gửi Thủy quân lục chiến đến- asking the South Vietnamese government to “invite” the United States to send the Marines. Thủ tướng Quát  phải được sự đồng ý của người có  thực quyền là  Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Thiệu chấp thuận …”.Theo History: U S Marines Land-at-Da-Nang

Phải chăng  nhằm hoàn thành mục tiêu chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nên năm 1966 Mỹ cung cấp phương tiện cho chính phủ Đệ II VNCH chống lại Phong trào chống đối ?  Và  7 năm sau, vào ngày 20 tháng 1 năm 1973, TT Nixon gửi tối  hậu thư buộc tổng thống Thiệu phải ký tắt vào bản Hiệp định Paris vào 12:00 trưa ngày 23.1.1973. (bản chính thức ký ngày 27.1.1973). Vậy mục tiêu CHIẾN LƯỢC của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là gì?

Để trả lời cho câu hỏi nêu trên, người viết sẽ dựa vào các tài liệu  liên quan đến chiến tranh Việt Nam đã được  Văn khố quốc gia giải mật (NARA)   thuộc chính phủ Kennedy, chính phủ Nixon, chính phủ Johnson, cộng với tài liệu của cơ quan CIA giải mật và phổ biến từ năm 2015 -2019 liên quan đến cuộc chiến Việt Nam để rộng đường dư luận.

Đào Văn

Nguồn:

[1] History.Army.Mil p.127-143/588:Revolt in the I Cords.pdf

[2] Thư viện CIA, p.10/52:THE SITUATION IN SOUTH VIETNAM (16 June-26 June 1966).pdf

[3] Thư Viện CIA:THE NATURE OF THE BUDDHIST CONFLICT IN SOUTH VIETNAM.pdf

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Advertisment -

MỚI CẬP NHẬT

Recent Comments