Tuesday, February 7, 2023
spot_img

Không ai sẽ thắng một cuộc chiến lâu dài ở Ukraine!

Vào tháng 11 năm 2022, Tướng Mark Milley, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, đã gây chấn động khắp các thủ đô phương Tây khi ông tuyên bố rằng cuộc chiến ở Ukraine là không thể thắng bằng các biện pháp quân sự thuần túy.

Mời xem video bài bình luận qua Youtube

Mark Milley gợi ý rằng Ukraine hiện đang ở thế mạnh và mùa đông này có thể là thời điểm để xem xét các cuộc đàm phán hòa bình với Nga. Ông cũng nhắc lại Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi việc đối phương từ chối đàm phán đã dẫn đến thêm hàng triệu người chết, cho thấy rằng việc không “nắm bắt” đúng thời cơ có thể dẫn đến nhiều đau khổ hơn cho con người.

Nhận xét của ông không chỉ thách thức lập trường của Kiev mà còn của nhiều nước phương Tây ủng hộ Kiev, bao gồm Ba Lan, các quốc gia vùng Baltics, Mỹ, Canada và Vương quốc Anh, những quốc gia đã ủng hộ Ukraine theo đuổi chiến thắng quân sự hoàn toàn.

Như Thủ tướng Estonia Kaja Kallas lập luận trên tạp chí Foreign Affairs đã nói rằng: “Con đường duy nhất dẫn đến hòa bình là đẩy Nga ra khỏi Ukraine. Sự thất bại của Nga, tư cách thành viên của Ukraine trong NATO, phiên tòa xét xử giới lãnh đạo chính trị và quân sự của Nga vì tội ác chiến tranh, bồi thường thiệt hại – những điều này là cần thiết cho hòa bình.”

Tuy nhiên, nếu những bình luận của Tướng Mark Milley gây tranh cãi, thì họ chỉ ra một vấn đề lớn hơn với việc tìm kiếm một chiến thắng hoàn toàn. Chiến thắng hoàn toàn có thể đòi hỏi một cuộc chiến rất dài, và điều đó cũng có nghĩa là thời gian cuối cùng của nó sẽ phụ thuộc vào các yếu tố chính trị nằm ngoài tầm kiểm soát của phương Tây.

Đối với những người kêu gọi một chiến thắng hoàn toàn, rằng phương Tây chỉ cần tiếp tục cung cấp vũ khí và các nguồn lực cần thiết cho Ukraine để tiếp tục chiến đấu, và chờ đợi Nga cạn kiệt vũ khí, tinh thần sa sút dẫn đến thua cuộc, và lý tưởng nhất là Putin sẽ ra đi.

Hơn sáu triệu người Ukraine đã buộc phải chạy trốn chiến tranh, nền kinh tế Ukraine đang rơi tự do và sự phá hủy trên diện rộng cơ sở hạ tầng năng lượng của đất nước có nguy cơ dẫn đến một thảm họa nhân đạo trong mùa đông này. Ngay cả bây giờ, Kyiv vẫn đang được hỗ trợ tài chính, chỉ duy trì hoạt động nhờ hàng tỷ đô la viện trợ từ Hoa Kỳ và Châu Âu. Chi phí năng lượng ở châu Âu đã tăng lên đáng kể do sự gián đoạn của dòng chảy dầu khí thông thường đến từ Nga.

Trong khi đó, bất chấp những thất bại đáng kể, các lực lượng Nga đã tập hợp lại và không sụp đổ. Kết quả hợp lý nhất đối với Ukraine sẽ là sự rút lui của các lực lượng Nga về các tuyến kiểm soát đã tồn tại trước cuộc xâm lược vào tháng 2 năm 2022. Nhưng ngay cả khi người Nga bị bắt buộc trở lại hiện trạng như trước đây, nhiều người Ukraine lo sợ rằng Moscow sẽ đơn giản rút lui và tập hợp lại, chờ cơ hội xâm lược tiếp theo. Điều đó có nghĩa sự răn đe quân sự sẽ không đủ để bảo đảm có được một hòa bình lâu dài.

Do đó, điều còn thiếu là một kế hoạch chính trị mạch lạc để chấm dứt đau khổ và để trấn an người dân Ukraine rằng Nga sẽ không tiếp tục bắt đầu một cuộc chiến tranh mới ngay khi có cơ hội và ngay cả khi Putin vẫn còn nắm quyền. Điều đó sẽ đòi hỏi người Nga phải chấp nhận một thất bại nhưng cũng đòi hỏi người Ukraine phải chấp nhận rằng một chiến thắng hoàn toàn trước nước Nga là điều chắc chắn không thể đạt được. Nếu dùng chữ một cách chính xác hơn thì người Ukraine đã không thất bại trước một nước láng giềng lớn và mạnh hơn.

Nhưng nếu muốn đạt được những mục tiêu đó, người dân phương Tây sẽ cần phải cung cấp những bảo đảm an ninh đáng tin cậy cho Kiev. Nói cách khác, phương Tây phải xây dựng một tầm nhìn chính sách lớn ngăn chặn mong muốn của Ukraine và những người ủng hộ trung thành nhất của họ là đánh bại và vô hiệu hóa Nga.

Nếu Hoa Kỳ và các đối tác của họ không vạch ra một kế hoạch như vậy, cơ hội cho kịch bản của Mark Milley sẽ tăng lên: một cuộc chiến tranh tiêu hao, nguy cơ leo thang và thảm họa, và hậu quả rắc rối của chiến tranh sẽ còn kéo dài không biết đến thời điểm nào.

Mặc dù thiếu sự hỗ trợ rộng rãi và sâu sắc mà Ukraine đã nhận được từ các đối tác và đồng minh cũng như sự ủng hộ tinh thần từ thế giới, nhưng Nga mạnh hơn nhiều người dự đoán. Quân đội, nền kinh tế và lãnh đạo của nó đều có vẻ vẫn đang ổn định. Mặc dù quân đội Nga đã tinh thần khá nhiều vì những thất bại lặp đi lặp lại, nhưng nó vẫn tồn tại. Mùa đông sắp tới sẽ là phép thử quan trọng đối với khả năng chịu đựng của quân đội Nga, nhưng chắc chắn sẽ không dẫn đến sự sụp đổ của nó.

Điều này cũng đúng với nền kinh tế Nga. Nhiều người tự tin dự đoán rằng thương mại và công nghiệp của Nga sẽ bị nghiền nát bởi sức nặng của các biện pháp trừng phạt do các chính phủ phương Tây áp đặt. Người ta cho rằng áp lực kinh tế cực đoan như vậy có thể đủ để buộc Moscow phải rút khỏi Ukraine. Nhưng thông thường, nhất là đối v1ới các nhà nước chuyên quyền và các nhà độc tài, áp lực kinh tế hiếm khi đủ để chấm dứt chiến tranh.

Nền kinh tế của Nga đã bị thu hẹp vào năm 2022, nhưng chỉ ở mức 3%, thấp hơn đáng kể so với dự đoán của một số người và hệ thống tài chính của nước này đã chứng tỏ sự ổn định về mặt kinh tế tổng quát, họ có yếu đi, nhưng họ chưa thể sụp đổ. Nga bị cắt đứt khỏi nhiều chuỗi cung ứng của phương Tây, nhưng lại có thặng dư tài khoản rất lớn, cho phép các công ty và chính phủ nước này tìm thấy phần lớn những gì họ cần ở những nơi khác.

Trong Chiến tranh Lạnh, các biện pháp trừng phạt không buộc Moscow phải rút khỏi Đông Âu, và ngày nay chúng khó có thể buộc Nga phải rút khỏi Ukraine. Mức giá trần đối với dầu của Nga do nhóm G-7 đặt ra vào đầu tháng 12 có thể ảnh hưởng đến doanh thu nhập khẩu của Nga, nhưng không gây thiệt hại nhiều cho Nga. Nếu, bất chấp áp lực của phương Tây, bộ máy chiến tranh của Nga vẫn được tài trợ và trang bị, thì kết quả sẽ là một bế tắc đẫm máu.

Là kiến trúc sư chính của cuộc chiến này, Putin cũng nhận thức được những hậu quả tiềm tàng của thất bại. Việc hiểu sai lịch sử của Ukraine và Nga khiến ông cho rằng cuộc xâm lược của mình sẽ nhanh chóng thành công. Nhưng mặc dù Putin có thể hiểu sai về nguồn gốc của quốc gia Ukraine, nhưng việc Putin nắm bắt được những bài học quan trọng về sự sụp đổ song sinh của các nhà nước Nga và Liên Xô là rất rõ ràng. Đế quốc Nga sụp đổ vào năm 1917 khi người cai trị của nó, Sa hoàng Nicholas II, thoái vị. Nhà nước Xô Viết sụp đổ sau khi các nhà lãnh đạo quân sự và an ninh của Tổng thống Mikhail Gorbachev phản bội ông và ông mất quyền kiểm soát thủ đô. Putin đã bảo đảm rằng ông vẫn nắm quyền kiểm soát vững chắc đối với quân đội, các cơ quan an ninh và người dân Nga. Thủ đô yên bình và được cung cấp tiện ích tương đối đầy đủ, và những người có đủ khả năng để lãnh đạo một cuộc cách mạng màu cam đều đã trốn ra nước ngoài.

Hiện tại, đa số người Nga tiếp tục ủng hộ chính phủ Nga và chưa sẵn sàng chấp nhận thất bại. Nhiều người coi Crimea và thành trì Sevastopol là những lý do chính đáng để kéo dài và chịu đựng những cái giá phải trả cho cuộc chiến, là những điều xứng đáng để chiến đấu. Và đối với nhiều người Nga, Putin vẫn là người có khả năng bảo đảm cho chủ quyền và sự ổn định của Nga.

Đối với giới tinh hoa chính trị Nga và thậm chí nhiều người Nga bình thường, thì sự thất bại của quân đội Nga và sự sụp đổ của Putin sẽ là một cơn ác mộng chính trị, đe dọa hỗn loạn kinh tế và vô luật pháp.

Giới tinh hoa Nga và người dân Nga bình thường đã chấp nhận lời giải thích của chính phủ rằng các biện pháp trừng phạt của phương Tây được áp đặt là để đè bẹp người dân Nga, nước Nga, không phải chính phủ Nga và quân đội Nga.

Với động lực phức tạp này bên trong nước Nga, không chắc rằng những thất bại quân sự có thể đủ để khiến Điện Kremlin có thể thoải mái khi nói về hòa bình. Nhưng cách tiếp cận hiện tại của phương Tây là cứ để chiến tranh tiếp diễn chỉ để thỏa mãn về mặt đạo đức và mặt chính trị, là những điều rất rủi ro.

Quan niệm đó sẽ khiến nhiều người Ukraine phải hứng chịu những nỗi kinh hoàng liên tục của chiến tranh. Số người chết và chi phí tài chính cho cuộc chiến sẽ tiếp tục tăng. Và bên trong nước Nga, Putin có thể giành được sự ủng hộ từ người dân rằng Nga đang trong một trận chiến sống còn với phương Tây, và nó khuyến khích niềm tin của những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga rằng Nga phải chiến thắng hoặc chịu diệt vong.

Những lời tố cáo của phương Tây về tội ác chiến tranh của Nga sẽ không đủ để thay đổi suy nghĩ của người dân Nga. Mặc dù ngày càng có nhiều người Nga không còn tin tưởng vào chính phủ và phương tiện truyền thông của chính họ, nhưng họ cũng không tin tưởng vào các đối tác phương Tây của mình.

Các nhà bình luận phương Tây đã thúc đẩy quan điểm này bằng cách lập luận rằng người Nga phải bị trừng phạt vì những gì đất nước họ đã làm với Ukraine. Những người Nga có quyền truy cập vào các phương tiện truyền thông phương Tây trên Internet không chấp nhận rằng Nga là một “nhà nước khủng bố” hay một “quốc gia đế quốc”. Giới tinh hoa Nga và nhiều người Nga bình thường tin rằng tập hợp quanh lá cờ là vì lợi ích tốt nhất của họ.

Tất nhiên, thay đổi chính trị trong một hệ thống chuyên chế có thể diễn ra nhanh chóng và đầy đủ. Quyền lực của nhà độc tài già nua của Nga là dựa trên việc gieo rắc và duy trì sự sợ hãi, hoài nghi và ngờ vực trong giới tinh hoa của đất nước. Nhưng ngày càng có nhiều hơn những thất bại hơn của Nga, với việc huy động thêm những người lính nghĩa vụ, thì lúc này, người Nga có thể bắt đầu đổ lỗi cho Putin, giống như những người tiền nhiệm của họ đã đổ lỗi cho Sa hoàng Nicholas và Gorbachev. Kết hợp với sự khủng hoảng về tinh thần, sự thờ ơ và kiệt quệ trong quân đội, sự thay đổi dư luận như vậy có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị. Và đó chính xác sẽ là thời điểm mà giới tinh hoa chính trị Nga phải quyết định nên thỏa hiệp với phương Tây hay chiến đấu đến cùng.

Vào tháng 11 năm 1918, Mười bốn điểm trong biểu đồ hòa bình của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã thuyết phục giới lãnh đạo Đức rằng họ sẽ được giải quyết một cách công bằng và thuyết phục họ chấp nhận đình chiến. Sự thỏa hiệp này đã kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sự yếu kém của quân đội Đức và việc các nhà lãnh đạo nhận ra rằng Đức đã thua trong cuộc chiến đã làm tăng sức hấp dẫn của các đề xuất của Woodrow Wilson.

Thay vì để tàn dư lực lượng của họ bị tiêu diệt và đất nước của họ bị xâm lược, họ đã chấp nhận các điều khoản của Wilson hứa sẽ không trừng phạt nước Đức. Đây là cách tiếp cận mà ngày nay phương Tây phải tuân theo. Phương Tây phải sẵn sàng đưa ra một bản đồ cho giới tinh hoa và dân chúng Nga, phác thảo cách họ có thể chấm dứt sự cô lập, thoát khỏi các biện pháp trừng phạt và xóa bỏ tình trạng bị bỏ rơi.

Biểu đồ hòa bình này nên bắt đầu bằng cách giải thích những rủi ro nếu tiếp tục chiến tranh. Cần phải làm rõ rằng Nga không thể thắng. Thiết bị quân sự do phương Tây cung cấp của Ukraine vượt trội hơn và các lực lượng của họ rất quyết tâm. Nếu Moscow tiếp tục chiến đấu, họ sẽ phải gánh chịu nhiều thất bại và thương vong hơn, đồng thời đặt mình vào nguy cơ sụp đổ thảm khốc và bạo lực ngày càng tăng.

Với một tương lai của Nga, kế hoạch phải chỉ ra, nếu chiến tranh tiếp tục sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế; và khiến Nga có nguy cơ trở thành một nước phụ thuộc vào Trung Quốc. Bằng cách chấp nhận rằng họ phải chấm dứt chiến tranh, chính phủ Nga sẽ tránh được sự sỉ nhục của một sự sụp đổ lớn hơn.

Và dĩ nhiên, kế hoạch hòa bình phải đưa ra những điểm lợi ích mà Nga sẽ đạt được nếu nước này chọn con đường hòa bình và rút quân về trong danh dự.

Nội dung cụ thể của một kế hoạch hòa bình sẽ phải rõ ràng với một cam kết rằng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Nga sẽ được tôn trọng sau một giải pháp hòa bình với Ukraine.

Thứ nhất, NATO, cần đưa ra bảo đảm vị trí của Nga trong cấu trúc an ninh của châu Âu là một điều cần thiết. Thứ hai, biểu đồ hòa bình phải khẳng định rằng các chính phủ phương Tây sẽ công nhận và tôn trọng vai trò lãnh đạo của Nga, với điều kiện Moscow phải tuân thủ nghiêm ngặt Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, cũng như tôn trọng các hiệp ước, thỏa thuận và cam kết quốc tế của Nga. Thứ ba, phương Tây nên vạch ra một thời gian biểu để trả lại các tài sản tài chính bị đóng băng của Nga sau khi các yêu cầu phi quân sự hóa và rút quân được đáp ứng. Cuối cùng, biểu đồ hòa bình phải tuyên bố rằng, sau khi chiến tranh kết thúc, mọi cấm vận kinh tế sẽ được dỡ bỏ.

Nhưng rất tiếc, tính đến hiện tại, phương Tây chỉ dùng gậy gộc, gạch đá để buộc Nga ngừng chiến tranh. Phương Tây đã không đưa ra những hứa hẹn nào cho một giải pháp hòa bình hay việc dỡ bỏ dần các biện pháp trừng phạt nếu Nga rút quân.

Nhưng có lẽ củ cà rốt lớn nhất chính là tính hợp pháp quốc tế vì Phương Tây sẽ bắt buộc phải công nhận quốc tế đối với một số người và nhóm cấu thành một phần của một nhà nước chuyên quyền Nga ngày nay.

Vì, một điều chắc chắn là, phía Nga trong các cuộc đàm phán hòa bình trong tương lai sẽ không bao gồm các nhà dân chủ, các nhà hoạt động phản chiến và các nhà lãnh đạo lưu vong mà chỉ có các thành viên của quân đội và bộ máy hành chính Nga sẽ ngồi vào bàn đàm phán.

Tầm nhìn về một nước Nga thời hậu chiến nên phù hợp với tầm nhìn của phương Tây về một Ukraine thời hậu chiến, nhưng sẽ không làm loãng đi ranh giới giữa kẻ xâm lược và nạn nhân.

Phương Tây sẽ mất một số thời gian thuyết phục cả Nga và Ukraine ngồi vào bàn đàm phán với những điều kiện và lợi ích mà cả hai bên đều chấp nhận,

Kế hoạch của Zelensky tập trung vào công lý quốc tế và muốn trừng phạt Nga trong khi chính phủ Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây khác cho rằng cách tiếp cận với quan điểm tuyệt đối như vậy chỉ sẽ kéo dài cuộc chiến và sự đau khổ của chính Ukraine.

Trong khi Putin vẫn đang tiếp tục cuộc chiến tranh man rợ của mình và buộc hàng triệu người Ukraine phải chịu đựng đói khát, lạnh giá lại càng khiến tinh thần của người Ukraine thêm hun đúc sự thù hận, lòng quả cảm cùng sự phản kháng, quyết đối đầu đến cùng với một nước Nga xâm lược.

Nhưng nếu nói đến nhận thức của người dân bình thường ở cả hai quốc gia xâm lược và bị xâm lược, ngày càng đông đảo người Nga và người Ukraine muốn hòa bình nhưng lại khó chấp nhận khi quốc gia mình là người lên tiếng thừa nhận thất bại trước đối thủ.

Và bán đảo Crimea là một vấn đề. Người Ukraine quyết tâm chiếm lại bán đảo mà họ coi là lãnh thổ Ukraine bị đánh cắp một cách chính đáng và là tiền đề cho sự xâm lược của Nga. Tuy nhiên, phương Tây có những lý do nghiêm trọng để lo sợ rằng Putin sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để ngăn chặn sự sụp đổ của Crimea. Bán đảo Crimea là trở ngại lớn nhất cho bất kỳ cuộc đàm phán nào giữa Moscow và Kiev. Một yêu cầu rõ ràng của phương Tây về việc trả lại Crimea như một điều kiện tiên quyết cho các cuộc đàm phán hòa bình sẽ chỉ khiến nhiều người Nga đứng về phía chiến tranh hơn. Đôi khi, để lại một chủ đề khó giải quyết cho các cuộc đàm phán trong tương lai là một chiến lược khôn ngoan.

Cuộc chiến này càng kéo dài, hậu quả của nó càng tồi tệ. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã lật đổ các đế chế và triều đại vĩ đại trên khắp châu Âu, gieo mầm mống cho Chiến tranh thế giới thứ hai và trực tiếp dẫn đến sự trỗi dậy của Mussolini và Hitler. Mối thù lịch sử giữa Đức và Pháp về Alsace-Lorraine, và giữa Serbia và Croatia về Bosnia, đã dẫn đến những hậu quả chết người cho cả hai bên. Vết thương của những cuộc xung đột này phải mất nhiều thế hệ mới có thể chữa lành.

Những tác động lâu dài của cuộc chiến ở Ukraine không thể dự đoán một cách chắc chắn. Nhưng nhận thức về tác động gây mất ổn định của các cuộc chiến tranh kéo dài và có tính hủy diệt cao sẽ phản ảnh nhu cầu về một chiến lược toàn diện hơn, một chiến lược có thể mang lại an ninh cho Ukraine và tương lai cho Nga.

Thay vì chờ đợi phản ứng từ Nga và Ukraine, thì Phương Tây phải là bên chủ động đưa ra một biểu đồ hòa bình một cách nghiêm túc với những điều kiện đủ để hài lòng cả hai bên với những bảo đảm hòa bình và tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của hai khối dân chủ và chuyên quyền, phải như vậy thôi mới có thể tìm được hòa bình đích thực.

Việt Linh 28.12.2022

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Advertisment -

MỚI CẬP NHẬT