Saturday, November 26, 2022
spot_img

Chiến tranh hạt nhân sẽ xảy ra ở đâu? Ukraine hay Đài Loan?

Cali Today News – Lời đe dọa ngầm đầy ẩn ý gần đây của Vladimir Putin về việc Nga có thể sử dụng vũ khí hạt nhân nếu Mỹ và các đồng minh NATO tiếp tục viện trợ vũ khí cho Ukraine là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Không khó để đưa ra một nhận định như vậy, một khi vũ khí mạnh mẽ hơn của Mỹ đổ vào Ukraine và các lực lượng Nga phải hứng chịu thêm nhiều thất bại, khiến Putin tin rằng chỉ có sử dụng một trái bom hạt nhân mới có thể thuyết phục thành công được các cường quốc phương Tây rút lui khỏi cuộc chiến.
Kể từ Thế chiến II với hai quả bom hạt nhân Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản để chấm dứt chiến tranh năm 1945, có lẽ Putin cũng đang muốn dựa vào chủ thuyết sử dụng bom nguyên tử để chấm dứt chiến tranh ở Ukraine chăng? Có thể lắm! Trong chiến tranh và khi xung đột vẫn đang tiếp diễn, chưa có bên thua mà không có kẻ thắng thì bất cứ điều tồi tệ nào cũng có thể xảy ra cả. Nhưng tôi khá tự tin cho rằng, Putin sẽ không làm điều đó.
Như vậy sẽ có nhiều người tin rằng, nếu chiến tranh hạt nhân xảy ra, hay thế chiến thứ 3 xảy ra, thì đích thị là ở Ukraine, nhưng thưa quý vị, tôi không nghĩ vậy. Không phải ở Ukraine mà xác suất xảy ra một cuộc chiến tranh hạt nhân là ở Đài Loan thì đúng hơn.
Nhưng, nếu điều tồi tệ với vũ khí hạt nhân xảy ra ở Ukraine, thì không chỉ Ukraine là nơi duy nhất trên thế giới có thể lãnh một hay vài trái bom hạt nhân từ Putin mà còn cả ở đảo Đài Loan – nơi các lực lượng Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tham gia vào các cuộc diễn tập quân sự mang tính khiêu khích nhau nhiều hơn lúc nào, cũng là nơi có nguy cơ ngày càng tăng bởi các hành động quân sự của cả hai bên có thể dẫn đến leo thang hạt nhân bất cứ lúc nào một trong hai bên thiếu sự kiềm chế.
Mặc dù cả Mỹ và Trung Quốc đều không đe dọa rõ ràng sẽ sử dụng loại vũ khí hạt nhân như vậy, nhưng cả hai bên đều nêu bật những kết quả cực đoan có thể xảy ra ở đó. Khi TT Joe Biden nói chuyện lần cuối với Tập Cận Bình qua điện thoại vào ngày 29 tháng 7, Chủ tịch Trung Quốc đã cảnh báo về chuyến viếng thăm hòn đảo của chủ tịch hạ Viện Nancy Pelosi bằng lời đe dọa công khai: “Những kẻ nghịch lửa sẽ chết vì nó”, đây được xem là một lời cảnh báo rằng Trung Quốc vẫn để ngỏ khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân.
Vào ngày 4 tháng 9, chỉ một ngày sau khi bà Pelosi rời Đài Loan, Trung Quốc đã bắn 11 hỏa tiễn đạn đạo Dongfeng-15 (DF-15) vào những vùng biển xung quanh hòn đảo Đài Loan. Nhiều nhà quan sát phương Tây cho rằng Trung Quốc muốn thể hiện khả năng của Bắc Kinh trong việc tấn công bất kỳ tàu hải quân Mỹ nào có thể đến viện trợ cho Đài Loan trong trường hợp bị Trung Quốc phong tỏa hoặc xâm chiếm hòn đảo này. Và DF-15, với tầm bắn 600 dặm (khoảng gần 1.000km), được cho là có khả năng mang theo bom hạt nhân.
Washington đã không công khai triển khai vũ khí có khả năng hạt nhân theo cách trơ trẽn như vậy gần lãnh thổ Trung Quốc, nhưng phía Mỹ vẫn báo hiệu khả năng sử dụng các Hàng không Mẫu hạm và tàu chiến để tiến hành các cuộc tấn công vào lục địa Trung Quốc nếu chiến tranh nổ ra.
Các quan chức quân sự ở cả hai quốc gia đều quá hiểu rằng nếu những con tàu như vậy tấn công lãnh thổ Trung Quốc, những hỏa tiễn DF-15 và DF-17 sẽ được sử dụng đế tấn công các tàu chiến của Mỹ, và nếu chúng được trang bị đầu đạn hạt nhân, có thể sẽ gây ra đòn đáp trả hạt nhân của Mỹ.
Như vậy, thông điệp ngầm của cả hai bên là không khó để nhận ra, đó là: “Một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra.”
Trên thực tế, không có gì mới về nguy cơ chiến tranh hạt nhân đối với Đài Loan. Bởi vì, trong cả hai cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan 1954-1955 và 1958, Hoa Kỳ đã đe dọa tấn công một Trung Quốc phi hạt nhân hóa khi đó bằng vũ khí như vậy nếu nước này không ngừng pháo kích vào các đảo Kim Môn (Quemoy) và Mazu (Matsu) do Đài Loan kiểm soát.
Vào thời điểm đó, Washington không có quan hệ chính thức với chế độ cộng sản trên đại lục và chỉ công nhận Trung Hoa Dân Quốc của Đài Loan. Tuy nhiên, cuối cùng, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nhận thấy có lợi khi công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) thay cho Trung Hoa Dân Quốc và nguy cơ xảy ra xung đột hạt nhân đã giảm nhanh chóng – cho đến gần đây.
Tuy nhiên, qua những diễn biến mới nhất, tình hình hiện nay đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn do quan điểm thay đổi của Washington về giá trị chiến lược của Đài Loan đối với vị trí thống trị của Mỹ ở Thái Bình Dương khi nước này phải đối mặt với thách thức về sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc.
Khi Hoa Kỳ chính thức công nhận CHND Trung Hoa vào năm 1978, Hoa Kỳ đã cắt đứt  quan hệ ngoại giao và quân sự chính thức với Trung Hoa Dân Quốc tức Đài Loan, đồng thời “thừa nhận quan điểm của Trung Quốc rằng chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc.” Lập trường đó được gọi là chính sách “Một Trung Quốc” – trên thực tế, đã tạo ra mối quan hệ hòa bình giữa hai nước Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Sự an toàn và quyền tự chủ của Đài Loan cũng đã được duy trì trong những năm qua bởi một đặc điểm quan trọng khác trong chính sách của Hoa Kỳ, được gọi là “sự mơ hồ chiến lược“. Nó bắt nguồn từ Đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979, một biện pháp được thông qua sau quyết định của Hoa Kỳ công nhận CHND Trung Hoa là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Theo đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979, Mỹ được trao quyền cung cấp vũ khí “phòng thủ” cho Đài Loan, trong khi chỉ duy trì quan hệ bán chính thức với giới lãnh đạo của nước này. Như vậy, Washington sẽ coi bất kỳ nỗ lực nào của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng của Đài Loan thông qua các biện pháp bạo lực là một vấn đề “đáng lo ngại“, nhưng không tuyên bố rõ ràng rằng Mỹ sẽ hỗ trợ Đài Loan nếu điều đó xảy ra. Chính sự mơ hồ về chiến lược như vậy đã giúp giữ hòa bình, một phần bằng cách đề nghị lãnh đạo Đài Loan không tuyên bố độc lập và nếu Trung Quốc xâm lược, Washington sẽ không khoanh tay đứng nhìn.
Kể từ năm 1980, cả hai chính quyền Dân Chủ và Cộng Hòa đã dựa vào sự mơ hồ chiến lược như vậy và chính sách Một Trung Quốc để định hướng quan hệ hòa bình của họ với Trung Quốc.
Từ năm 1980 đến 2001, các quan chức chính sách đối ngoại hàng đầu của Mỹ chủ yếu tập trung vào việc đánh bại Liên Xô, đối phó với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và mở rộng các cơ hội thương mại toàn cầu.
Sau đó, từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến năm 2018, sự chú ý của họ chuyển hướng sang Cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Tuy nhiên, từ năm 2018 đến hiện nay, Trung Quốc bắt đầu được Mỹ xác định là một mối đe dọa sống còn đối với sự thống trị toàn cầu tiếp tục của Washington. Trung Quốc vẫn luôn tiếp tục phát triển kinh tế và theo đuổi chương trình hiện đại hóa quân sự nhằm tìm kiếm quyền bá chủ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong thời gian tới và lăm le thay thế Hoa Kỳ để đạt được ưu thế toàn cầu trong tương lai.
Để ngăn chặn Trung Quốc đạt được điều đáng sợ nhất, đó là “bá chủ khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương“, Ngũ Giác Đài đã đề ra một chiến lược kết hợp sự hiện diện quân sự tăng cường của Mỹ trong khu vực với quan hệ quân sự hóa ngày càng tăng với các đồng minh của Mỹ như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines và tiếp theo đó, là Đài Loan.
Việc củng cố hệ thống phòng thủ của Hoa Kỳ đã trở thành ưu tiên hàng đầu của Ngũ Giác Đài và Đài Loan, được coi là một mảnh ghép quan trọng trong chiến lược này.
Nhận thức mới này về tầm quan trọng “trọng yếu” của Đài Loan đã khiến các nhà hoạch định chính sách cấp cao ở Washington phải xem xét lại những điều cơ bản, bao gồm cả cam kết của họ đối với chính sách Một Trung Quốc và sự mơ hồ chiến lược.
Tổng thống Biden đã nhiều lần nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ Đài Loan nếu hòn đảo này bị tấn công. Mỹ đã nâng cấp quan hệ ngoại giao với hòn đảo và hứa sẽ chuyển giao vũ khí trị giá hàng tỷ đô la và các hình thức hỗ trợ quân sự khác. Về bản chất, những hành động như vậy trên thực tế là sự từ bỏ “Một Trung Quốc” và thay thế nó bằng chính sách “một Trung Quốc, một Đài Loan“.
Trung Quốc đã phản ứng với những thay đổi nhận thức từ phía Mỹ và cảm thấy lo lắng, tức giận. Để chứng tỏ sự nghiêm túc của mình, Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành các cuộc tập trận không quân và hải quân thường xuyên trên không và trên biển xung quanh Đài Loan, rõ ràng là nhằm mục đích đe dọa giới lãnh đạo Đài Loan.
Đối với cuộc chiến tại Ukraine, không ai biết khi nào thực sự sẽ kết thúc hay kết thúc như thế nào?
Và cùng một thời điểm, không có dấu hiệu nào cho thấy Bắc Kinh hay Washington chuẩn bị thu hẹp quy mô hoạt động quân sự khiêu khích lẫn nhau xung quanh Đài Loan. Điều đó có nghĩa là một cuộc đụng độ vô tình hoặc ngoài ý muốn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và từ đó sẽ dẫn đến một cuộc xung đột toàn diện và cả vũ khí hạt nhân sẽ có thể được đem ra để sử dụng.
Hiện tại, không chuyên gia quân sự nào dám nghĩ đến chuyện sẽ có một ngày, Đài Loan tuyên bố độc lập hoàn toàn hoặc chính quyền Biden từ bỏ chính sách Một Trung Quốc sẽ có ý nghĩa như thế nào với phần còn lại của thế giới.
Trung Quốc chắc chắn sẽ đáp trả quyết liệt, có thể bằng một cuộc phong tỏa hòn đảo bằng hải quân hoặc thậm chí là một cuộc xâm lược toàn diện. Nếu chiến tranh Mỹ-Trung nổ ra, có thể khó có thể kiềm chế cuộc giao tranh ở mức “chiến tranh theo quy tắc thông thường“.
Cả Trung Quốc và Mỹ, đã rút ra được nhiều kinh nghiệm về một cuộc chiến tiêu hao và kéo dài như tại Ukraine, không bên nào muốn thấy một cuộc chiến tương tự tại Đài Loan, vì thế cả hai bên đã chuẩn bị lực lượng quân đội của mình để sẵn sàng chiến đấu nhanh chóng, sử dụng nhiều hỏa lực nhất có thể nhằm bảo đảm một chiến thắng quyết định một cách nhanh chóng.
Đối với Bắc Kinh, họ có thể bắn hàng trăm hỏa tiễn đạn đạo vào các tàu chiến và căn cứ không quân của Mỹ trong khu vực với mục đích loại bỏ khả năng trả đũa và tấn công lãnh thổ Trung Quốc của Mỹ.
Đối với Washington, họ cũng có thể phóng hàng trăm hỏa tiễn vào các bến cảng quan trọng, căn cứ không quân, trạm radar và trung tâm chỉ huy của Trung Quốc trong đất liền.
Trong cả hai trường hợp, hậu quả cho cả hai bên sẽ rất thảm khốc. Đối với Mỹ, việc mất một hay vài Hàng không Mẫu hạm với thủy thủ đoàn hàng mấy ngàn nhân mạng hay các căn cứ tại Nhật Bản, Philippines, Nam Hàn bị phá hủy với thương vong hàng ngàn người là điều khó chấp nhận, Trung Quốc cũng bị tiêu hao sức mạnh và mất khả năng gây chiến. Đến lúc này, liệu các nhà lãnh đạo của bên thua cuộc có chấp nhận tình trạng như vậy mà không cần dùng đến vũ khí hạt nhân hay không? Không ai có thể nói chắc chắn trước điều này, nhưng dường như cả Mỹ và Trung Quốc đều học thuộc bài trong “Tôn Tử binh pháp” có viết rằng: “Chưa thông địa hình sông núi, không thể hành quân; Dùng binh đánh trận phải dựa vào biến hóa gian trá mới mong thành công, phải căn cứ vào chỗ có lợi hay không mà hành động, tùy sự phân tán hay tập trung binh lực mà thay đổi chiến thuật. Quân đội hành động thần tốc thì nhanh như gió cuốn, khi tấn công thì như lửa cháy, khi phòng thủ thì như núi đá, khi ẩn mình thì như bóng đêm, khi xung phong thì như sấm sét.”
Hiện tại, không có cuộc đàm phán nào giữa Mỹ và Trung Quốc để giải quyết vấn đề Đài Loan, nhằm ngăn chặn các cuộc đụng độ ngoài ý muốn ở eo biển Đài Loan hoặc giảm nguy cơ leo thang hạt nhân. Trên thực tế, nếu cả hai quốc gia không biết kiềm chế, để chiến tranh xảy ra tại eo biển Đài Loan, thì hậu quả còn khủng khiếp hơn nhiều lần so với cuộc chiến tại Ukraine.
Việt Linh 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Advertisment -

MỚI CẬP NHẬT

Recent Comments